NHỮNG NGÀY ĂN CHAY
Thứ Tư, tháng 4 03, 2013
Ẩm thực chay
, Phật học
(Tính theo ngày Âm lịch)
| Hai ngày | 1 và 15. |
| Bốn ngày | 1, 14, 15 và 30. |
| Sáu ngày | 8, 14, 15, 23, 29 và 30. |
| Tám ngày | 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24 và 30. |
| Mười ngày | 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29 và 30. |
| Một tháng | Tháng giêng / tháng 4 / tháng 7 hay tháng 10. |
| Ba tháng | Tháng giêng, tháng 7 và tháng 10. |
| Bốn tháng | Tháng giêng, tháng 4, tháng 7 và tháng 10. |
| Trường trai | Quanh năm suốt tháng. |
| Ăn chay là pháp tu nuôi dưỡng lòng từ bi đối với các loài động vật, là phương pháp giữ gìn sức khoẻ và sống thọ. Để việc ăn chay mang lại nhiều lợi ích, người ăn chay phải giữ tâm trong sạch, tránh điều tội ác, làm việc nhân từ, thương người mến vật và tu tập các công đức. Được như vậy thì ánh sáng từ bi và trí tuệ của đạo Phật sẽ tỏa sáng khắp nhân loại và chúng sanh. | |
Bản chất ẩm thực Phật giáo
Thứ Bảy, tháng 3 09, 2013
Ẩm thực chay
Khi một sinh thể từ chối dưỡng chất, tức đồng nghĩa nó đang đứng trước cái chết, vậy thì ăn để sống hay sống để ăn? Câu hỏi như thể mổ phỏng những tâm hồn hướng thượng, xem cái ăn chỉ là dưỡng chất tồn tại hay mê đắm vật thực hưởng thụ thấp hèn. Ở đây, vấn đề đặt ra không chỉ dừng lại ngang đó mà nó còn được nhìn nhận trên bình diện phổ quát về đối tượng và các quan năng hấp thụ dưỡng chất từ thổ thiển đến vi tế hơn.
Cơ bản, chúng ta tập trung vào những dưỡng chất được hình thành từ bốn loại thức ăn mà theo Khế kinh thì “đó là đoàn thực, xúc thực, ý tư thực và thức thực”[1]. Nhìn chung bốn loại thức ăn này đều có những nét đặc thù riêng, cung ứng nhu cầu nuôi lớn và duy trì thân mạng của chúng sinh thông qua các cơ quan tiếp nhận. Thức ăn bằng phẩm vật thô sơ đáp ứng quá trình tăng trưởng sinh lý; thức ăn vi tế hơn, như: xúc, ý tư và thức[2] hỗ trợ nhu cầu thăng hoa tinh thần. Rồi qua đó phát hiện thêm về khả năng tiêu hóa và sức hấp thụ dưỡng chất của chúng sinh. Cho nên, muốn nắm được yếu tính cơ bản này, chúng ta phải thấu triệt đặc tính, bản chất cũng như quá trình tổng hợp, phân hóa và tiếp nhận bốn loại thức ăn này. Chúng ta sẽ thấy rõ bản chất bốn loại thức ăn ở ba cõi như là nhu cầu tất yếu để duy trì sự sống.
1. Đoàn thực[3]: Tức là thức ăn được vo tròn thành miến. Đây là thuật ngữ Trung Hoa dựa theo nguyên tắc tượng hình để mô phỏng thực phẩm trong truyền thống ăn bằng tay của người Ấn.
Tuy đoàn thực có những thứ thô cứng hay mềm lỏng, nhưng chung quy nó đều tạo ra khả năng nuôi lớn và tăng ích các giác quan. Với phạm trù này, chúng ta thấy trong cõi dục, đoàn thực có ba đặc tính phổ biến đó là hương, vị và xúc. Khi đưa thức ăn vào miệng, phải nhờ xúc giác nhận biết độ cứng mềm, dùng lưỡi phân biệt vị chua cay và nhờ khứu giác ngửi được mùi hương của nó. Cả ba yếu tố này sau khi được dung nạp vào cơ thể, nó biến thành một tổ hợp: xúc – vị – hương, nhưng hoàn toàn chưa có tác dụng gì cả. Đến khi nào thức ăn được trải qua quá trình tiêu hóa thông qua các cơ quan hấp thụ tương thích, thì khi ấy chúng mới trở thành một dạng dưỡng chất hay năng lượng làm tăng trưởng khả năng hoạt động các giác quan. Dạng năng lượng này mới có tác dụng nuôi lớn và duy trì mạng sống. Tuy nhiên, nó cũng chỉ nuôi lớn cơ thể trong một chừng mực nào đó, nếu vượt quá cái ngưỡng cho phép thì sẽ trở thành bịnh, như bịnh béo phì chẳng hạn.
Ngược lại, nếu thức ăn không bị tiêu hóa[4], chúng ta thường gọi đó là “trúng thực”, thì nó sẽ trở thành độc tố, gây tai hại đến khả năng sinh trưởng. Cũng vậy, hương thơm có khả năng làm thăng hoa khứu giác nên được xếp vào dạng dưỡng chất, ngược lại mùi xú uế, tanh hôi,… làm tổn hại đến năng lượng sinh trưởng nên nó không được cho là thực phẩm.
Trong quá trình tiến hóa, tùy vào khả năng phân bào, chúng ta thấy có sinh vật chưa hoàn thiện các cơ quan tiếp nhận thức ăn. Có những loài thuỷ sản như sứa biển, nó không ăn bằng xúc – vị – hương mà chỉ dùng quan năng toàn cơ thể để hấp thụ dưỡng chất và lớn lên. Một đứa trẻ trong bụng mẹ, chỉ có khả năng hấp thụ dưỡng chất nhờ tiếp xúc một dạng năng lượng được bào chế đặc biệt từ cơ thể mẹ và ý thức sinh tồn để sinh trưởng, chứ không có thể đoàn thực như chúng ta. Đứa trẻ phải qua thời gian hoàn thiện cơ quan tiếp nhận và được sinh ra đời thì nó mới có thể đoàn thực.
Nói chung, hầu như tất cả chúng sinh cõi Dục đều phải dựa vào đoàn thực để sinh trưởng. Cho đến hàng Nhập chúng ngạ quỷ trong địa ngục hay một số chư thiên các cõi trời cũng phải dùng đoàn thực để tồn tại. Điều này như là yếu tính bản năng sinh tồn.
Các cõi từ cảnh giới Sơ thiền trở lên chỉ có xúc, chứ không có hương và vị, cho nên ở đây đoàn thực không còn tác dụng nữa. Vì không có hương và vị nên khứu giác và vị giác cũng không có. Hai cơ quan mũi và miệng giờ đây chỉ có chức năng mỹ thuật mà thôi. Ở cõi Sắc cũng vậy, món ăn đoàn thực này không có tác dụng gì cả. Bởi lẽ, cõi Sắc được hình thành từ màu sắc, nó chỉ có tác dụng với đôi mắt nên có giá trị trong lĩnh vực xúc thực. Nếu màu sắc bị biến hoại thì nó không còn tác dụng đoàn thực nữa. Cho nên, cõi Sắc chúng sinh không dùng đoàn thực như chúng ta, mà cõi Sắc chỉ có xúc thực.
2. Xúc thực[5]: Đây là đặc tính dưỡng chất hình thành nhờ vào xúc chạm đối tượng.
Hầu như tất cả các giác quan đều có khả năng xúc chạm, chẳng qua nó thô thiển dễ thấy hay vi tế khó biết mà thôi. Xúc được đề cập ở đây chính là một tổ hợp gồm ba yếu tố: giác quan, đối tượng được tiếp xúc và khả năng nhận thức đối tượng. Quá trình tổ hợp ba yếu tố này, đều đi theo chiều hướng tích lũy dưỡng chất trong một giới hạn nhất định nào đó, rồi cũng bị hủy diệt để làm điều kiện sinh ra cái khác; vì đặc tính tất yếu của vạn vật là hủy diệt.
Xúc có hai loại: hữu lậu và vô lậu. Xúc hữu lậu, khi tiếp thu đối tượng sẽ làm phát sinh trạng thái hoan hỷ, an lạc và bấy giờ nó trở thành thức ăn[6]. Bởi lẽ, bản chất những dòng cảm xúc tích cực chính là tổ hợp hài hòa giữa vật chất và tinh thần, cho nên nó có khả năng kích thích quá trình trao đổi chất, hình thành năng lượng cung cấp cho các giác quan hoạt động. Vì thế mà tiếng hát ầu ơ toát ra từ tình yêu bao la của người mẹ, có khả năng nuôi dưỡng tâm hồn thánh thiện một đứa trẻ; hay một dạng âm nhạc đặc thù có thể thích thích quá trình sinh trưởng một số loài cây, là những minh chứng cho vấn đề này. Do vậy, chúng ta khẳng định những trạng thái vui vẻ, an lạc, buông xả đều là thức ăn tinh thần.
Đặc biệt, người thực tập thiền định sẽ làm cảm xúc hỷ lạc ngày một tăng trưởng, cho nên nó hình thành một dạng năng lượng đặc thù có khả năng thay thế một số dưỡng chất. Do vậy, người tu thiền định không cần ăn cũng có thể kéo dài mạng sống trong một thời gian, tùy vào sức định. Nhờ sức định nên sinh hỷ lạc và cảm thọ này phát triển đến một mức nào đó có thể chứng đắc thần thông. Những ai từng có kinh nghiệm an lạc trong thiền định đều có thể biết rõ dưỡng chất và tổn hại của loại xúc này.
Ngoài ra, trong trường hợp xúc thực đưa đến trạng thái buồn khổ thì nó không phải là một dạng dưỡng chất. Vì bản chất của cảm xúc buồn khổ hình thành trên cơ sở xung đột của ba tổ hợp cảm xúc nên dẫn đến trạng thái không điều hòa giữa vật chất và tinh thần. Điều này có vẻ như mơ hồ, khó thấy, nhưng thật ra trong sâu thẳm tâm hồn, những xung đột tiềm tàng ấy đã tạo ra tính hủy hoại năng lượng sinh tồn. Như đôi tai hằng ngày nghe âm thanh chát chúa, quá cường độ cho phép có thể dẫn đến màng tai bị hỏng. Trong trường hợp này, năng lượng tích lũy bị tiêu hoại, cho nên chúng ta không xem nó là dưỡng chất tồn tại.
Cũng thế, màu sắc không phải là thực phẩm có thể ăn được dưới dạng vật thực, nhưng nó có khả năng hình thành dưỡng chất dưới dạng xúc thực. Nếu ai nói đôi mắt không cần ăn thì đó một nhận định sai lầm. Thật ra đôi mắt vẫn cần được nuôi dưỡng bằng muôn sắc màu. Chỉ đơn cử, khi đôi mắt nhìn một đối tượng với cường độ ánh sáng đầy đủ thì nó sẽ được bảo dưỡng tốt. Nhất là nhìn đời sống thiện ích thì nó sẽ được thăng hoa đến một mức nào đó, chúng ta thấy đôi mắt trở nên trong sáng. Ngược lại, khi đôi mắt nhìn sự vật trong điều kiện thiếu anh sáng, hay nhìn kẻ thù như kim đâm vào mắt; tất nhiên nó sẽ đưa đến sự tổn hại.
Vẫn biết rằng, tám giác quan nội sinh đều có khả năng tiếp xúc, nhưng điều này diễn ra ở ý thức vẫn là mạnh mẽ và dễ thấy nhất. Nhờ sự tiếp xúc này mà sinh ra hỷ, lạc và thuận lợi cho tâm xả để làm dưỡng chất. Còn bản ngã thì thường lấy tiềm thức làm đối tượng khởi lên cảm xúc, nhưng vì quá vi tế nên chúng ta khó thấy.
Nói chung, cả ba cõi đều tồn tại xúc thực. Ở cảnh giới Sơ thiền, không tồn tại năm thức mà điều kiện hình thành của nó dựa trên cơ sở của năm giác quan và năm đối tượng nhận thức. Ở đó chỉ còn tồn tại ý thức, cho nên xúc thực vẫn có mặt và đỉnh cao của xúc thực được thấy ở cảnh giới Phi tưởng Phi phi tưởng. Trong cảnh giới Vô sắc, chúng sinh không còn có đôi mắt nữa, mọi hiện tượng lúc bấy giờ được phân biệt bằng ý thức; nhưng khi lên đến Diệt tận định ở cõi Vô sắc thì xúc thực không còn tồn tại.
3. Ý tư thực[7], có đặc tính là hy vọng hay nói cách khác, khả năng tồn tại dựa vào ý chí và hy vọng.
Quả thật, ý chí sinh tồn và niềm hy vọng một ngày nào đó mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn so với hiện tại, chính là động lực thúc đẩy con người luôn hành động. Hành động vì sự mong muốn đổi đời, hành động vì mơ ước một ngày kia tâm hồn mình được chuyển hóa thánh thiện. Nói chung, ý chí và hy vọng kích thích sự hoạt động của ý thức, thúc đẩy cho hành động tương lai. Do vậy, ý tư thực ở đây luôn đồng hành với mong muốn mà đối tượng của nó chính là những điều khả ái[8]; và lúc bấy giờ nó trở thành thức ăn. Ngược lại, một hồi ức ở quá khứ hay hưởng thụ dục lạc chỉ có tác dụng hiện tại, chứ không đưa đến ước muốn trong tương lai, cho nên nó không tạo ra dưỡng chất.
Nói cách khác, tư duy có khả năng tương thích với tất cả các thức nội sinh, nhưng so với khả năng nổi trội của ý thức khi hy vọng vào đối tượng thì nó liên hệ mạnh nhất. Nhờ khả năng tư duy này, ý thức vọng về quá khứ, nắm giữ hiện tại và hướng tới tương lai. Quá trình ấy diễn ra đồng hành với tham muốn. Ý muốn tuy không có tác dụng nuôi lớn thể xác nhưng nó có khả năng duy trì mạng sống trong một chừng mực nào đó, cho nên hy vọng cũng chính là thức ăn tinh thần.
Với sức hy vọng mãnh liệt ở tương lai, người ta không cảm thấy đói trong một thời gian. Điều này tồn tại dựa vào khả năng chấp trì của thức.
4. Thức thực: Hay thức ăn bởi thức, trạng thái hoạt động của nó là chấp trì[9].
Sau khi dung nạp và tiêu hóa thức ăn, nên thể lực tăng trưởng và hai loại thức ăn xúc thực và ý tư thực cũng đều nuôi dưỡng các giác quan, làm cho khả năng nhận thức tăng trưởng. Do đó, tính chất chung của ba loại thức ăn này đều duy trì sự tồn tại và hướng tới tương lai để làm tăng trưởng khả năng nhận thức và ngược lại nó cũng nuôi dưỡng, duy trì sự tồn tại sáu giác quan. Cho nên thức thực có khuynh hướng bảo tồn khả năng chấp giữ những dòng cảm thọ buồn vui, và từ đó khởi lên tham ái trong chuỗi: xúc, thọ, ái, thủ,… nên gọi đó là duyên khởi. Quá trình tác thành sự sống có ý thức cũng được diễn tiến theo quy luật tự nhiên này.
Quả thật, nếu tự ngã mất đi thì sự sống trong ba cõi cũng không còn, cho nên có tồn tại ý niệm tự ngã thì chúng sinh mới có khả năng duy trì sự sống. Nhưng khổ nỗi, bản chất của tất cả các dòng cảm xúc nuôi lớn tự ngã chính là khả năng duy trì khát ái. Cho nên chúng ta có thể nói: thức ăn của thức là phiền não. Đây là yếu tố cơ bản tạo nên sự sống. Năng lực tiềm tàng của nó được tổng kết theo ba nhóm: Danh ngôn tập khí, ngã chấp tập khí và hữu chi tập khí.
Danh ngôn tập khí chính là quá trình nhận thức, tùy vào tiếp xúc mà sinh ra cảm thọ, tùy theo cảm thọ mà có tri giác; và tri giác kích thích khởi lên hành động với sự can thiệp của ý thức và tất cả ấn tượng ghi nhận đó được lưu trử dưới dạng một tên gọi. Khi một tên gọi được kích hoạt thì toàn bộ ảnh tượng quá khứ, hiện tại và tương lại được hiện lên. Quy trình này như là hình thức lưu trử tài liệu dưới dạng file trong một data của máy tình vậy. Hình thức file ấy chính là ký ức được tích lũy, nhưng nó được phân nhóm để tác thành ý niệm phân biệt tồn tại của tự ngã, đây chính là ngã chấp tập khí. Nhưng thật ra, tự ngã không tồn tại liên tục vĩnh hằng, mà bản chất của nó chỉ là một dòng sinh diệt liên tục được ý thức bởi cấu trúc phân biệt, giống như dòng chảy một thát nước vậy. Sức mạnh của dòng chảy này chính là năng lực đưa đến tái sinh, nên gọi là hữu chi tập khí.
Sự kết hợp giữa ba loại tập khí chính là nguồn gốc của nhận thức và hành động. Chúng ta nhận thức sự vật hiện tượng rồi ý thức kết tập thành hợp thể, lưu vào bộ nhớ và tồn tại dưới dạng tập khí chủng tử. Còn hành động chính là sự phát khởi của nghiệp cảm theo hai hướng thiện ác và tạo thành dòng sống từ đời này sang đời khác nhờ vào khả năng duy trì của tập khí. Cho nên khi thực tập thiền định tiến đến thức thực một thời gian, nhưng đoàn thực bị khổ cạn quá mức sẽ làm cho tâm rơi từ ngưỡng Vô sắc trở lại cõi Dục, hình thành nên khái niệm luân hồi.
Nói chung, bốn loại thức ăn đều có khả năng làm tăng trưởng sự sống nên chúng ta xem nó là thức ăn[10] để tồn tại. Sự tập khởi của nó chính là khát ái với đối tượng tương lai, và còn đi đôi với tham đắm hệ lụy, mong ước tái sinh ở đời sau[11]. Tuy nhiên, nguyên lý chuyển dịch của thức ăn không phải thường hằng, để có thể duy trì thân mạng liên tục. Có khi nó bị gián đoạn trong các trạng thái: khi vô tâm[12], khi ngủ say, khi hôn mê, và trong Vô tưởng thiên. Còn nếu ở trong trạng thái hữu tâm, nó bị chuyển dịch theo sở y, duyên, tính, giới, địa[13]. Vì vậy, khả năng duy trì thân mạng của chúng sinh không thường xuyên.
Tóm lại, sự hình thành ba cõi dựa trên nhiều yếu tố, nhưng trong ấy bốn loại thức là nền tảng căn bản. Thức ăn đoàn thực có tác dụng mạnh ở cõi Dục và chúng sinh nơi đây bị ràng buộc bởi tham luyến ngũ dục nên chịu nhiều đau khổ. Thức ăn hỷ lạc tinh vi hơn, được nhìn thấy phổ biến ở cõi Sắc và Vô sắc. Cuối cùng chỉ còn thức ăn của thức tồn tại đến cảnh giới Diệt tận định là hết. Khi không còn thức ăn của thức nào nữa thì người ta đi vào trình độ giải thoát các vị A-la-hán.
Thích Huyền Châu
Chú thích:
[1] – Đại chánh, kinh 838. Pāli, S. 55.31. Abhisanda.
[2] – Bốn loại thức ăn, hay tứ thực: thô đoàn thực, tế xúc thực, ý tư thực, thức thực 麤摶食, 細觸食, 意思食, 識食. Pāli: cattaro āhārā; kabaliṅko āhāro oḷāriko vā sukhumo vā, phasso dutiyo, mano-sañcetanā tatiyā, viññāṇaṃ catutthaṃ.
[3] – Đoạn thực 變食; hoặc đoàn thực 團食, thức ăn phiến đoạn, từng miếng. Skt. kāvaḍikā-ahāra (Pali: kabaḷīkāro āhāro oḷāriko vā sukhumo vā). Cf. Câu-xá, ch.iii (tr. 55a08).
[4] – Du-già 66 (tr. 664b13): “Hương, vị, xúc, ngay khi chúng tiêu biến mới trở thành dưỡng chất. Nếu không tiêu biến, chúng trở thành tác hại.” Cf. Tạp tập 5 (tr. 716c8).
[5] – Xúc thực 觸食. Skt. sparśa-ahāra (Pali: phassa ahāra).
[6] Du-già, ibid., hưong, vị, xúc, khi được thọ dụng mà chưa tiêu hóa là xúc thực. Sau khi tiêu hóa, chúng trở thành đoàn thực. Du già 94 (tr. 838c14): “Các xúc hữu lậu làm thức ăn cho hỷ, lạc. Do hỷ lạc mà đại chủng của các căn được nuôi lớn.”
[7] – Ý tư thực 意思食; Skt. manaḥsaṃcetanā (Pali: manosañcetanā): tư (tâm sở) của ý, tương ưng ý. Câu-xá 10 (tr. 55a25): tư tức ý nghiệp (manaskarman).
[8] – Yêu thích cảnh hiện tại và hướng đến vị lai. Với cảnh quá khứ thì chỉ là ức niệm, nên tư duy trong trường hợp này không trở thành thức ăn.
[9] – Thức thực 識食, Thức ăn bởi thức; Skt. vijñāna-ahāra (Pali: viññāna-ahāra). Tạp tập 5 (tr. 716c11): “Thức thực, do lực chấp trì của thức a-lại-da mà thân tồn tại.” Du-già 50 (tr. 576c): “Do y nơi đây mà các loại hữu tình hoặc đã sinh, hoặc đang tồn tại được duy trì, và chất chứa ước vọng tái sinh.”
[10] – Du-già 57 (tr. 619c11): “Do được ba loại thức ăn trước bồi dưỡng, thể của thức tăng thịnh, rồi duyên vào các đối tượng hiện tại và vị lai mà sinh khởi, nó nuôi dưỡng đại chủng của các căn.”
[11] – Bỉ bỉ lạc trước 彼彼樂著: ham muốn đời sau ta sẽ sanh chỗ này, chỗ kia. Pāli: tatratatrābhinandī (S. iii. 158).
[12] – Hữu bộ: thức không hiện hành trong vô tâm vị. Nhưng trước đó nó hiện hành, và là thức ăn. Vì quá khứ thực hữu, cho nên trong vô tâm vị thức vẫn là thức ăn.
[13] – Sở y, tức các căn. Duyên, tức cảnh giới (đối tượng nhận thức). Tình: thiện, ác, vô ký. Giới: Dục, Sắc, Vô sắc. Địa: 9 địa.
Nhà hàng Cơm chay trà đạo Bồ Đề Tâm
Thứ Sáu, tháng 2 15, 2013
Ẩm thực chay
Ăn
chay là xu hướng ăn uống ngày càng khẳng định được những ưu việt của
mình. Ngày Tết ăn chay, ngoài việc đảm bảo sức khoẻ, cân bằng dinh
dưỡng, thanh lọc cơ thể, còn mang ý nghĩa tích đức, cầu phúc an lành cho
bản thân và gia đình trong suốt một năm.
Đồ chay được nấu hoàn toàn
bằng rau củ, đậu, nấm,… những thực phẩm thanh khiết, có nhiều chất xơ và
vitamin thanh mát giúp giải độc cơ thể. Cũng chính nhờ lợi thế nhiều
vitamin tự nhiên nên thực phẩm chay còn giúp cho da trở nên tươi mát,
sắc diện hồng hào là điều mà ai cũng mong muốn được sở hữu trong những
ngày Tết đến Xuân về. Hơn nữa, theo các chuyên gia về dinh dưỡng, ăn
chay vào ngày Tết cũng là cơ hội “một năm mới có một lần” để bạn tự
thưởng cho hệ tiêu hoá của mình những giây phút nghỉ ngơi sau chuỗi ngày
dài ăn quá nhiều chất đạm béo. Ăn chay cũng là một phương pháp giúp bạn
được thư giãn, tĩnh tâm, thứ mà ai cũng hướng tới, đặc biệt trong xã
hội hiện đại ngày hôm nay.

Nhà hàng Cơm chay Trà đạo Bồ Đề Tâm
với những món chay thượng hạng vốn đã trở thành thương hiệu ẩm thực uy
tín với thực khách. Với 108 món chay được chế biến một cách cầu kỳ bằng
cả tấm lòng của các nghệ nhân bếp, Bồ Đề Tâm mong muốn mang lại cho quý
khách những món ăn tốt cho sức khoẻ, giúp “thân nhẹ - tâm an” và hơn nữa
là góp phần mang lại một môi trường xanh cho cộng đồng.

Súp tĩnh tâm là một trong những món ăn được thực khách ưa chuộng nhất tại Bồ Đề Tâm
Thực phẩm chay của Bồ Đề Tâm vốn
được lựa chọn kỹ lưỡng, ngoài yêu cầu đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm,
nó còn là những thứ thơm ngon thượng hạng và được chế biến kỳ công bằng
trọn tâm huyết của những nghệ nhân yêu nghề. Những món ăn tuyệt diệu
ngay từ tên gọi như Súp tĩnh tâm, Súp Yến mùa xuân, Nộm bình an, Hoa quả
thuận buồm xuôi gió, Xôi ngày mùa, Canh thủy trúc, Gà ri với xôi chiên
phồng, Trà an lạc… sẽ mang tới cho thực khách những trải nghiệm thực sự
mới mẻ và hoan hỉ trong tiết xuân!

Đậu
phụ hải sản om nồi đất: hương vị đặc trưng những sản vật quý
của từ biển cả kết hợp cùng hương thanh mát của nấm rừng om
trong nồi đất cùng đậu làng Mơ nức tiếng. Tất cả hương bị của
biển, của rừng…hội tụ cả trong món ăn vô cùng đặc biệt này

Món Nộm Bình An thanh mát hương vị hoa cỏ, trái cây mùa xuân là lời chúc cho một năm mới bình an, hạnh phúc

Món Từ bi đại lượng gồm nấm và các loại rau củ được gói khéo léo trong vỏ bánh bột mì vàng rộm, giòn tan




Đặc biệt, Bồ Đề Tâm sẽ tổ chức
buffet chay vào tất cả các ngày lễ quan trọng của Phật giáo và các ngày
1, 8, 14, 15,19, 23, 30 âm lịch hàng tháng và thứ 6, thứ 7 hàng tuần với
giá 189.000đ/suất.
Hệ thống nhà hàng Cơm chay trà đạo Bồ Đề Tâm:
68 Phạm Huy Thông, Hà Nội (ven hồ Ngọc Khánh); Tel: 04.37245872
89 Nguyễn Khuyến, Hà Nội ; Tel: 04.37475663
website: bodetam.com.vn; Hotline: 092.939.8189
Ăn Chay, Sát Sanh và Quả Báo
Thứ Ba, tháng 2 12, 2013
Ẩm thực chay
Ăn chay đối với nhân loại mà nói, không kể là giữ được thân thể khỏe mạnh, hay tránh được nhân quả nghiệp báo, những lợi ích khác không thể nói cùng. Lại từ một người khuếch đại đến quốc gia xã hội, khiến cho xã hội an lành, thế giới hòa bình, có thể thấy lợi ích của ăn chay thật không thể tính đếm. Trong vô lượng lợi ích, tôi cho rằng lợi ích lớn nhất của ăn chay, phải là tăng trưởng lòng từ bi.
1. ăn chay được mạnh khoẻ, sống lâu
Thứ nhất: thức ăn chay không độc, thịt có độc
Thức ăn chay phần nhiều đều là rau quả, sinh trưởng lớn lên từ đất, hoặc rong biển… đã nhiều dinh dưỡng lại không có độc tố. Những thực vật này giúp máu giữ được chất kiềm – đây muốn chỉ máu ấy trong sạch. Y học gọi là kiềm tính thực vật. Thực phẩm có thịt ăn vào có thể khiến cho máu mang tính chua – đây muốn chỉ máu ấy dơ, do đó thịt được gọi là thực phẩm mang tính chua. Người ăn chay máu sạch, nên tuần hoàn nhanh, khiến cơ thể nhẹ nhõm thoải mái, hoạt bát, chịu đựng giỏi, suy nghĩ nhanh lẹ và sống lâu. Như Hòa thượng Triệu Châu, một cao tăng Phật giáo đời Đường sống đến 150 tuổi. Hòa thượng Hư Vân thời cận đại sống được 120 tuổi. Cư sĩ Lý Bỉnh Nam, Đài Loan, nhờ nhiều năm trường trai, 95 tuổi mà vẫn sáng suốt. Những điều này đều là hiện thực chứng minh ăn chay mạnh khỏe, sống lâu. Lại như quán quân bơi lội Mậu-lâm-la-tư của thế vận hội Olimpic, lần đầu tiên, tốc độ của anh ta thật kinh người. Là vận động viên nổi tiếng nhất, anh ta là một người ăn chay. Theo báo cáo của Kiện Đức, một nhà hóa học trứ danh Pháp quốc, ông ta phát hiện thực phẩm thịt là một loại thực phẩm trúng độc mang tính chậm. Bởi vì xuất xứ của thịt là từ heo, dê, gà, vịt… mà động vật lúc vội vàng, giận dữ hoặc sợ hãi thì trong cơ thể sản sinh một vật tiết ra độc tố, độc tố ấy nhanh chóng truyền khắp các mạch máu vi tế và thịt trong toàn thân. Vật tiết độc chất này thông thường đều đầy trong cơ thể, tác dụng “cái mới thay đổi cái cũ” bài xuất ra ngoài, hoặc ra bằng đường đại tiểu tiện. Nếu con vật bị giết trong lúc đang giận dữ hoặc sợ hãi, bộ máy cơ thể bị đình chỉ hoạt động, vật tiết xuất độc tố này không được bài xuất ra, vẫn tồn đọng trong máu thịt. Nếu ăn vào loại thịt này, tất bị trúng độc tố ấy. Cho nên, ăn thịt bằng với trúng độc mang tính chậm. Đã từng có người thí nghiệm qua. Động vật trong lúc giận dữ hoặc sợ hãi, chất tiết độc tố mà cơ thể sản sinh ra, nếu hút ra bằng ống thủy tinh, chỉ cần độc tố bằng một cây nhang đã có thể giết chết một mạng người. May mà độc tố này khi gặp rau quả, bị hóa giải bớt một phần nào.
Thứ hai: Nhân loại nên ăn chay, chớ nên ăn thịt
Theo tiến sĩ Hàn Đinh Đốn của trường đại học Ca-luân-tỷ-á Mỹ quốc, đã từng giải phẫu phân tích đường ruột, chứng minh con người thích hợp ăn chay mà không thích hợp ăn thịt. Ông ta giải thích ruột non của động vật ăn thịt thì ngắn, ruột già thẳng và trơn nhẵn; ruột non của động vật ăn chay thì dài, ruột già cũng dài; ruột của động vật ăn thịt lẫn ăn chay dài hơn động vật ăn thịt, ngắn hơn động vật ăn chay. Ruột già của con người dài khoảng 5 – 6 mét và quằn tới quằn lui, vách ruột không láng đồng thời chồng lên một đống. Đường ruột như thế chỉ thích hợp với ăn chay, không thích hợp với ăn thịt. Bởi vì thịt ít chất xơ, sau khi tiêu hóa để lại cặn bã. Ruột của con người tương đối dài, thức ăn ở trong ruột quá lâu sẽ sinh ra độc tố, tăng thêm gánh nặng cho gan. Gan quá sức chịu đựng sẽ trở nên xơ cứng, thậm chí ung thư. Lại nữa, trong thịt có rất nhiều a xít uric, Urê, ăn vào tăng thêm gánh nặng cho tạng thận, dẫn đến bệnh thận. Vả lại, thịt ở trong ruột già, ruột non phải qua sự hấp thu quá độ không cần thiết. Và thịt vốn lại thiếu chất xơ, dễ tạo nên táo bón, dẫn đến bệnh trĩ và ung thư trực tràng. Sự phân tích đường ruột con người trên đây, đủ để chứng minh con người ăn thịt là “tự rước họa vào thân”.
Thứ ba: Thức ăn thịt dễ dẫn đến bệnh tật
Sự nguy hại lớn nhất đến sức khỏe của người già, trung niên là colesterin, mà hàm lượng colesterin tương đối có nhiều trong não, thần kinh, máu, nước mật, lòng vàng trứng và mỡ… của động vật. Colesterin là chủ thể cấu thành hocmon của tuyến thượng thận và vitamin D. Tố chất dinh dưỡng này, thanh niên, trung niên hấp thu một lượng vừa phải rất là hữu ích. Nếu trong máu của một người chứa colesterin quá nhiều, sẽ dẫn đến xơ cứng động mạch, bệnh tim, bệnh cao huyết áp… Tuổi trung niên trở lên thì cơ thể, sinh lý có chiều hướng suy dần. Tất nhiên, cần phải tránh ăn nhiều thực phẩm thịt hàm chứa phong phú chất colesterin để giữ sức khỏe cơ thể.
Lại một chứng minh nữa: nhà dinh dưỡng học Kha-lâm-tư, Mỹ quốc nói: “Nhân loại nếu có thể bỏ ăn thịt, thì sẽ thu được lợi ích vô cùng”. Ăn chay có thể giữ lâu tuổi trẻ, tinh lực dồi dào, đầu óc mẫn tiệp, da thịt mềm mại, đây là hiện tượng của tuổi trẻ. Ngược lại, thân thể mệt nhọc, thần trí hôn ám, da thịt xù xì, lộ ra dáng vẻ lão hóa. Nay lấy ba cái này làm chuẩn, so sánh giữa ăn chay và ăn mặn, nhà dinh dưỡng học Chu Tu Tuệ nói: “Ăn nhiều thực phẩm có thịt, trong y học gọi là thực vật mang tính chua, có thể làm cho máu mang tính chua, máu dơ. Lúc muốn trung hòa tính chua này, chất canxi trong máu phải tiêu hao lượng lớn. Lượng canxi mất, tế bào sẽ bị lão hóa, cơ thể mỏi mệt không sức chịu đựng, dễ đưa đến thần trí hôn ám và suy yếu. Còn ăn nhiều rau xanh, trái cây, những thực vật mang tính kiềm này, có thể làm cho máu giữ được chất kiềm, máu trong sạch, khiến cho cơ thể nhẹ nhàng, thoải mái, chịu đựng giỏi, đầu óc nhanh nhạy đồng thời có thể sống lâu”.
Trên đây, đã đối chiếu sức khỏe và tinh thần của người ăn chay và người ăn mặn, rõ ràng đã thấy: một giữ được vẻ thanh xuân, một suy yếu lão hóa. Sự láng mịn và xù xì của da, chỉ nhìn qua ta có cảm giác ngay là già hay trẻ. Cho nên, da thịt mịn màng là điều kiện chính của sự trẻ mãi. Ăn chay làm sao giữ được nước da mịn màng? Điều này cần phải nói từ thực phẩm dầu mỡ nào mà người ăn chay đã ăn. Giá trị dinh dưỡng của mỡ là: thứ nhất, cung cấp nhiệt năng. Thứ hai, duy trì nhiệt độ cơ thể, bảo vệ nội tạng và làm tươi nhuận da. Thứ ba, giúp đỡ hấp thu vitamin. Chất mỡ quá nhiều làm cho người ta mập, dễ mắc bệnh cao huyết áp, mạch máu não cho đến các bệnh tim, gan, phổi, thận… Nếu mỡ quá ít khiến cho người ta gầy gò, dễ mắc các chứng suy nhược cho đến các bệnh về da. Có hai nguồn mỡ: một là mỡ từ động vật, như mỡ của heo, dê và thịt mỡ, gọi là mỡ động vật. Hai là mỡ từ nhân thực vật, như dầu phụng, dầu đậu nành, gọi là dầu thực vật. Sự hơn thiệt của hai loại dầu mỡ này khác nhau rất lớn. Mỡ động vật là mỡ bão hòa, nhiều colesterin, dễ dẫn đến xơ cứng động mạch, cao huyết áp, bệnh tim, cũng có lợi cho việc sinh sản ung thư tế bào. Dầu thực vật không phải là dầu bão hòa, có thể thúc đẩy tăng gia bài tiết tính chua của nước mật, làm cho colesterin xuống thấp, tránh được bệnh tim và các chứng huyết quản khác. Từ đó có thể thấy, người ăn chay sử dụng dầu thực vật, quả thật là một yếu tố lớn để khỏe mạnh tươi da. Hàm lượng dầu trong thực vật, nhiều nhất là ở hồ đào, chứa 66.90%. Thứ hai là đậu phụng, chứa 48.70%. Thứ ba là mè trắng, chứa 48.23%. Thứ tư là đậu nành, chứa 20.20%. Những dầu này đều không phải là dầu bão hòa, ăn vào có ích không hại. Hàm lượng mỡ trong động vật, nhiều nhất là ở thịt heo, chứa 57.80%. Thứ hai là thịt dê, chứa 25.00%. Thịt bò chứa 13.50%. Nhưng những loại mỡ này đều thuộc mỡ bão hòa, chứa rất nhiều colesterin, dễ dẫn đến bệnh tim, bệnh huyết quản.
4. Người ăn chay tăng trưởng lòng từ bi
Ăn chay đối với nhân loại mà nói, không kể là giữ được thân thể khỏe mạnh, hay tránh được nhân quả nghiệp báo, những lợi ích khác không thể nói cùng. Lại từ một người khuếch đại đến quốc gia xã hội, khiến cho xã hội an lành, thế giới hòa bình, có thể thấy lợi ích của ăn chay thật không thể tính đếm. Trong vô lượng lợi ích, tôi cho rằng lợi ích lớn nhất của ăn chay, phải là tăng trưởng lòng từ bi.
Sát sinh ăn thịt thật là ác nghiệp, tất phải thọ báo không còn nghi ngờ gì nữa. Có điều là thọ báo tùy theo tâm giết và cách giết tàn nhẫn hay không mà có nhanh chậm, nặng nhẹ, không thể nói một cách khái quát. Nếu sau khi sát sinh, sám hối tu thiện cũng có thể chuyển hậu báo thành hiện báo, trọng báo thành khinh báo. Tôi vì muốn để cho mọi người hiểu một cách thiết thực việc ác báo sát sinh ăn thịt, không ngại hiện thân thuyết pháp.
Làm sao tránh kiếp đao binh
1. Cội gốc đưa đến chiến tranh
Chúng ta phải hiểu rõ rằng, hết thảy nỗi thống khổ của chiến tranh từ đâu mà có? Không có điều gì là không có nhân quả. Quá khứ tạo nhân bát khổ, thì hiện tại phải chịu quả bát khổ. Hiểu được quan hệ của nhân quả thì biết ngay kiếp can qua cũng là một loại quả báo. Nhưng có một số người không tin vạn pháp đều có lý nhân quả. Bởi không học Phật, cho nên họ không tin lý nhân quả. Không tin nhân quả, vậy can qua nguyên nhân do đâu? Trí tuệ của phàm phu chỉ biết được hiện tại. Cách nhìn của phàm phu thế gian và cách nhìn của Thánh nhân căn bản không giống nhau. Cách nhìn của phàm phu chia làm hai loại: thứ nhất, họ cho rằng kiếp can qua là do bọn xâm lược chủ nghĩa đến quốc gây ra, muốn chinh phục thế giới mà gây nên chiến tranh. Cách nhìn thứ hai, họ cho rằng do bọn dã tâm trong nước không giữ bổn phận, nhiễu loạn trị an nội bộ, tạo phản dẫn đến đánh nhau, nên đã xảy ra kiếp nạn can qua. Phàm phu thường tình cho hai điều này chính là nguyên nhân gây nên chiến tranh. Thật ra, đây hoàn toàn không phải là nguyên nhân chính, chẳng qua chỉ là một trợ duyên mà thôi. Kiếp can qua là duyên, vậy thì nhân của nó ở đâu? Điều này không phải là cái mà kẻ thường tình có thể hiểu được, phải là bậc Thánh trí tuệ siêu xuất mới có thể thông tỏ.
2. Trí tuệ bậc thánh có thể thấy được quá khứ
Phật Pháp vô biên. Chỉ có Phật giáo mới có thể nói rõ được nguyên nhân vì sao xảy ra chiến tranh. Chúng ta đưa ra một ví dụ: Gieo hạt giống dưa xuống đất, đó gọi là nhân. Sau hạt giống nảy mầm, lớn lên ra trái, gọi đó là quả. Trợ duyên chính là điều kiện sinh trưởng. Giống như sau khi gieo hạt giống xuống, phải tưới nước, bón phân, có ánh sáng mặt trời mới sinh ra quả. Cho nên, chắc chắn có nhân, có duyên mới có quả. Như vậy, xem ra rõ ràng hơn rất nhiều. Thấy quả thì biết ngay nhân, giống như thấy dưa thì biết ngay dưa là từ hạt giống dưa mà có. Hiện tại, sở dĩ bị quả báo chiến tranh, là do đời trước tạo nhân chiến tranh. Quý vị phải biết, quả báo của chiến tranh là chết chóc, thì nhân của nó chắc chắn phải là nhân giết chóc. Lại thêm trợ duyên của bọn dã tâm và chủ nghĩa đế quốc, nên đã xảy ra quả báo chiến tranh. Nhưng rất tiếc, phàm phu không biết được nhân này, chỉ có Phật, Bồ tát mới hiểu rõ được. Điều này không phải nói dóc hay suy đoán. Phật, Bồ tát có thiên nhãn thông, cho nên thấy rất rõ nhân quả của chiến tranh, thấy được chúng sinh từ xưa đến nay luôn tạo nghiệp sát, không ai là không sát sinh. Và sát sinh được phân làm hai: một là trực tiếp giết, hai là gián tiếp giết. Tạo hai nghiệp sát này, lâu này gặp duyên tất kết thành quả chiến tranh. Vậy thì, thế nào là trực tiếp giết và gián tiếp giết? Đồ tể trực tiếp giết heo, dê, bò gọi là trực tiếp giết. Vì ngày nào chúng ta cũng ăn thịt nên đồ tể mới giết. Vì chúng ta họ mới giết, nên gọi là gián tiếp giết. Hai loại này đều là nhân sát.
3. Thủ phạm giết chính
Mọi người đều cho rằng, tội của người giết nặng còn tội của người ăn nhẹ, điều này không đúng. Luật pháp chính phủ, phạm tội cũng chia làm hai loại, đó là chủ phạm và tòng phạm.
Chủ phạm chính là tự tay mình làm, tòng phạm là hùa theo. Vậy thì người trực tiếp giết là chủ phạm hay là người ăn là chủ phạm? Điều này không nhất định. Thí như lúc đồ tể giết heo đi bán, lúc này đồ tể chính là chủ phạm, người mua thịt là tòng phạm. Nhưng thịt không đủ bán, người mua thịt nhiều quá, đồ tể bèn giết thêm, lúc này người mua thịt trở thành chủ phạm, và đồ tể là tòng phạm. Cho nên, có nhân như thế nào thì mỗi người tự chịu quả báo như thế ấy. Người thời nay không tin lý nhân quả báo ứng bằng người xưa. Trước đây, không những dân lành sợ nhân quả, mà ngay cả kẻ đồ tể cũng sợ nhân quả báo ứng, nên lúc sắp giết heo, miệng họ luôn nói thế này: “Heo này! Heo này! Mày đừng hận tao, mày là món ăn của thế gian, họ không ăn tao không giết, mày hãy đòi nợ người ăn thịt ấy!”. Bạn xem, chẳng phải người giết heo cũng sợ heo đến đòi mạng sao? Và rốt cuộc heo đòi nợ người ăn hay là đòi nợ người giết? Tục ngữ có câu nói rất hay: “Oan có gia trái có chủ”. Cho nên ăn có quả báo của ăn, giết có quả báo của giết.
Trong kinh cũng có một bài kệ rằng: “Cho dù trăm ngàn kiếp, nghiệp tạo ra hãy còn. Lúc gặp phải nhân duyên, quả báo phải nhận chịu”. Nghĩa là: Giả sử có trải qua trăm ngàn kiếp đi nữa, một thời gian lâu dài như thế, thì những nghiệp tốt xấu mà mỗi người ra tạo cũng không mất. Nên biết, giữa nhân và quả còn có cái duyên, khi nhân gặp duyên thì mình vẫn phải chịu quả báo.
http://lienhoasanh.blogspot.com/2012/06/loi-ich-viec-chay.html
http://lienhoasanh.blogspot.com/2012/06/loi-ich-viec-chay.html
Dinh dưỡng từ món ăn chay
Thứ Ba, tháng 2 12, 2013
Ẩm thực chay
Vào tháng 7 âm lịch, người Việt Nam thường có lệ ăn chay cả tháng hoặc vào các ngày rằm trong tháng. Vậy ăn chay có lợi ích gì, nhất là về phương diện sức khỏe?
Ngừa được bệnh
Ăn chay có thể ngừa được bệnh sỏi mật, sỏi thận, hen suyễn và giảm bớt bệnh tiểu đường ở những người không dùng insulin, do thực phẩm chay chứa nhiều chất xơ giúp cơ thể điều hòa thành phần đường một cách hiệu quả. Ngoài ra, ăn chay còn ngừa được bệnh đau tim do các thực phẩm có nguồn gốc động vật chứa nhiều cholesterol và chất béo trong khi thực phẩm chay không hiện hữu những chất này.
Hơn nữa chất xơ trong rau cải, trái cây tươi chín còn giúp giảm cholesterol trong máu, giảm đông cứng thành động mạch, giảm huyết áp cao và các triệu chứng về bệnh tim mạch, đề phòng những bệnh ung thư (tỉ lệ người ăn chay mắc bệnh ung thư thấp hơn so với ăn mặn là 50%).
Thức ăn chay chủ yếu có nguồn gốc thực vật giúp hệ tiêu hóa hoạt động nhẹ nhàng hơn. Thành phần chất đạm chủ yếu cho bữa ăn chay là từ các loại đậu đỗ hoặc các thành phẩm từ đậu nành như tàu hũ ki, đậu hũ…
Các hình thức của ăn chay
Nghiên cứu mới nhất cho thấy tỉ lệ người ăn chay thường ít mắc những căn bệnh về suy thoái hơn so với người ăn mặn, đặc biệt khi ăn chay có uống thêm sữa và ăn thêm trứng. Ăn chay có thể chia làm 2 hình thức sau:
Ăn chay uống sữa và ăn trứng: Người ăn chay dùng thêm sữa, các chế phẩm từ sữa, ăn trứng, ngũ cốc, trái cây…
Ăn chay tuyệt đối: Người ăn chay kiêng dùng các thực phẩm từ thịt, gà, vịt, cá… Kể cả phô mai, sữa, trứng. Nói chung là các thực phẩm được chế biến từ chất hữu cơ động vật.
Giá trị dinh dưỡng cao
Ăn chay tốt nhất cho sức khỏe. Các chất dinh dưỡng trong thực phẩm chay hội đủ những chất cần thiết giúp nuôi sống cơ thể, nếu được tính toán một cách cẩn thận. Người ăn chay thuần túy loại bỏ các sản phẩm động vật có thể bị thiếu chất dinh dưỡng cần thiết. Do vậy, cần tính toán về số lượng chất cần thiết cho cơ thể như chất đạm, béo, tinh bột, đường, khoáng chất, sinh tố các nhóm theo nhu cầu dinh dưỡng.

Người ăn chay tiêu thụ trái cây, ngũ cốc, trứng, rau đậu và các chế phẩm từ sữa được xem là đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho cơ thể. Sau đây là những nguyên tắc ăn chay vừa khỏe vừa đủ chất:
- Ăn ít chất béo, đường, uống các loại sữa ít béo hoặc sữa đã gạn kem.
- Uống thêm sữa đậu nành, sinh tố bổ sung hay ngũ cốc nếu chọn hình thức ăn chay thuần túy.
- Dùng thêm sinh tố các nhóm, các loại amino axít, chất khoáng khi cần thiết.
- Ăn các loại ngũ cốc chưa qua xay xát như gạo lức… Nếu đang mang thai hoặc bình phục sau khi ốm dậy, nuôi con mọn… cần tham vấn của bác sĩ dinh dưỡng.
Thay thế thực phẩm động vật
Ngoài ra, người ăn chay có thể dùng được các loại thực phẩm chứa các chất sau để thay thế cho thực phẩm động vật như:
- Chất đạm như đậu nành, đậu phộng, ngũ cốc, gạo…
- Sinh tố, khoáng chất như các loại rau có màu xanh đậm, màu vàng, lúa mạch, lúa mì, khoai tây, rau dền, cà rốt…
- Sinh tố nhóm D như bơ nhân tạo và thực phẩm nhiều sinh tố B12 như các loại ngũ cốc. Ngoài ra, ánh nắng mặt trời cũng cung cấp cho cơ thể một lượng vitamin D đáng kể.
- Chất kẽm như lúa mạch, lúa mì…
- Chất sắt như bánh mì, trái cây khô, rau đậu, rau lá xanh.
- Chất vôi như hạnh nhân, đậu phụ, các loại rau cải.
Theo Món ngon Hà Nội
Một chế độ ăn chay đúng đắn
Thứ Ba, tháng 2 12, 2013
Ẩm thực chay
Ăn chay là khuynh hướng đang thịnh hành ở các nước đang phát triển vì nó giúp ngăn ngừa được nhiều bệnh tật. Một số người trong chúng ta thì không ăn chay vì sợ thiếu chất. Một chế độ ăn chay đúng đắn sẽ giúp chúng ta tránh được nhiều bệnh tật mà vẫn đảm bảo sức khoẻ.
Nhiều người trong chúng ta luôn tưởng nhầm ăn chay là chỉ ăn rau quả và đậu. Hiện nay để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của mọi người, các công ty đã cho ra đời nhiều nguyên liệu và thức ăn chay bổ dưỡng, phong phú. Chỉ cần một chút khéo léo của các bà nội trợ là chúng ta đã có một mâm cơm chay ấm cúng, giàu dinh dưỡng cho gia đình.
Một chế độ ăn chay đúng đắn vẫn sẽ đảm bảo được sức khỏe.
Theo các nhà khoa học, ăn chay đúng cách sẽ mang lại nhiều lợi ích cho sức khoẻ. Chế độ ăn chay có ít cholesterol, ít chất béo bão hoà, nhiều chất béo không bão hoà, nhiều vitamin C, E… có tác dụng chống oxy hóa, giảm hàm lượng cholesterol trong máu và giúp ngăn ngừa được nhiều thứ bệnh như: bệnh tim mạch, bệnh ung thư vú và đại tràng, bệnh đái tháo đường túyp 2, béo phì, tăng huyết áp, sỏi mật và táo bón…
Tuy nhiên chúng ta cũng nên lựa chọn đa dạng thực phẩm và ăn chay đúng cách để tránh những bất lợi cho cơ thể. Thật khó kiềm chế trước các món ăn chay được chế biến từ hạt đậu nành và các loại thực phẩm ngũ cốc giàu tinh bột rất ngon miệng, phù hợp với khẩu vị như cơm chiên Dương Châu, mì xào giòn, rau cải xào nấm đông cô, phở áp chảo, chả giò, cá chay kho tộ, canh chua Thái Lan... Tuy nhiên chúng ta cũng cần biết cân đối nhu cầu để tránh tình trạng béo phì vì món ăn chay rất giàu đạm và chứa nhiều năng lượng. Tình trạng béo phì rất dễ xảy ra đối với người mới chuyển sang ăn chay vì nhanh cảm thấy đói (do thức ăn chay dễ tiêu hóa) nên càng cố ăn nhiều và tăng cường ăn vặt.
Những lưu ý khi ăn chay
- Chọn lựa, phối hợp thực phẩm và bổ sung các vitamin, chất khoáng một cách hợp lý để không bị thiếu các acid amin thiết yếu, vitamin B12, năng lượng, kẽm, sắt.
- Cần lưu ý cung cấp đủ lượng calo cần thiết cho những người như trẻ em đang lớn, phụ nữ mang thai, phụ nữ cho con bú, người bệnh đang trong giai đoạn hồi phục bằng cách ăn thêm bữa phụ và sử dụng những thức ăn thực vật giàu năng lượng như các hạt có dầu, sữa đậu nành...
- Thức ăn thực vật giàu đạm thường thiếu một số acid amin thiết yếu như lysine (gạo, bắp, lúa mỳ), threonine (gạo), tryptophan (bắp) và methionine (các loại đậu). Nhưng tình trạng mất cân đối các acid amin sẽ không xảy ra nếu chúng ta biết cách phối hợp các loại đạm thực vật theo cách sau:
+ Rau đậu và các loại hạt. Ví dụ: Cháo với mè và đậu.
+ Ngũ cốc và họ rau đậu. Ví dụ: Cơm với đậu, súp đậu với bánh mỳ...
+ Rau có thể ăn với cơm, các hạt có dầu, mầm lúa mỳ.
- Tránh thiếu máu do thiếu sắt bằng cách ăn nhiều rau quả (đặc biệt là cam, chanh, dưa đỏ, ớt, cà chua, bông cải xanh...). Rau quả có nhiều vitamin C, giúp tăng cường hấp thu sắt và lấn át cả tác dụng ngăn cản hấp thu sắt của acid phytic, acid oxalic, acid tannic... Phụ nữ có thai, đang cho con bú, trẻ nhũ nhi, trẻ đang dậy thì, vận động viên hoặc người mất máu nhiều nên sử dụng viên sắt bổ sung.
- Cầm bổ sung B12 cho phụ nữ mang thai, phụ nữ cho con bú và đặc biệt là người cao tuổi để tránh tình trạng thiếu B12.
- Để tránh thiếu kẽm có thể bổ sung bằng cách uống viên kẽm hoặc viên chứa kẽm.
Nguồn: Sức khỏe và đời sống
Ăn chay thế nào cho đúng?
Thứ Ba, tháng 2 12, 2013
Ẩm thực chay
Ngày nay người ta ăn chay và theo đạo Phật ngày càng nhiều, có thể nói bất cứ ai trong chúng ta ít nhất trong đời đều có đôi lần ăn chay vì một duyên do nào đó chứ không hẳn là theo tôn giáo hay đạo Phật. Thế nhưng không phải ai cũng có thể hiểu đúng về ý nghĩa của việc ăn chay và vì sao phải ăn chay, nhất là đối với hàng cư sĩ (Phật tử tại gia) và những người trong buổi đầu ăn chay.
1. Hiện nay, chúng ta có thể bắt gặp các quán, nhà hàng chay có mặt ở khắp nơi từ những phố đông người đến những con hẻm nhỏ để phục vụ cho nhu cầu ăn chay ngày càng đông đúc của mọi người. Vào những ngày chay lạc nhất một ngày như Rằm và mùng 1 âm lịch hàng tháng người ta ăn chay rất đông, điều này có thể kiểm chứng ở các quán chay khi mọi người phải xếp hàng chờ mua. Vì sao ngày càng có nhiều người ăn chay như vậy? Câu hỏi này có thể trả lời một cách tóm tắt ở hai nguyên nhân được cho phổ biến nhất là do tôn giáo, nhất là Phật giáo phát triển mạnh mà tinh thần từ bi của nhà Phật là chay tịnh; kế đến là nhiều người ăn chay vì lý do trị bệnh, giữ gìn sức khỏe… Nói chung xuất phát từ nhiều lý do để người ta ăn chay ngày càng nhiều, xong không phải ai cũng có thể hiểu hết được ý nghĩa của việc ăn chay là gì? Và vì sao họ phải ăn chay?!
Ngày càng có nhiều quán, nhà hàng chay phục vụ cho đông đảo người ăn chay
Cá nhân người viết bài này cũng đã và đang thực hành ăn chay theo phương pháp “Thập trai” (tức ăn chay mỗi tháng 10 ngày theo những ngày nhất định). Nhớ lại trước đây, tôi không thể nào quên, biết bao những kỷ niệm vui của sự “ngây ngô” của buổi đầu ăn chay. 5 năm về trước, khi chưa là một Phật tử tôi cũng ăn chay, nhưng mục tiêu, ý nghĩa của việc ăn chay lúc đó khác với bây giờ. Ăn chay lúc đó là để tôi “trả lễ” chư Phật, Bồ tát khi tôi cầu nguyện một điều gì đó. Có những lần tôi cầu nguyện và “trả lễ” rất hậu hĩnh là ăn chay liên tiếp trong 1 tháng hoặc có khi là nửa năm. Và đương nhiên, với mục tiêu và ý nghĩa của việc ăn chay như thế, tôi đã phải xin lỗi và hẹn đi hẹn lại với chư Phật, Bồ Tát nhiều lần mới có thể “trả lễ” xong được! Tôi tin đó là việc mà rất nhiều người đang tập ăn chay trong buổi đầu sẽ mỉm cười và tỏ ý đồng cảm! Song, đó là một ý nghĩa và mục tiêu lệch lạc của việc ăn chay.
2. Tại sao chúng ta phải ăn chay? Theo quan điểm tiến bộ của khoa học hiện đại nghiên cứu và thí nghiệm thì, con người sinh ra là để ăn rau, củ, quả chứ không phải để ăn thịt, tức ăn chay thay vì ăn mặn. Thứ nhất, hai hàm răng của con người được cấu trúc một cách đặc biệt, lại có răng hàm cùng xương quai hàm để nghiền và nhai thức ăn giống loài động vật ăn rau quả, không ăn thịt sống. Trong khi đó, loài động vật ăn thịt sống có răng cửa và bộ răng nanh bén nhọn để xé thịt. Thứ hai, đối với loài người và những động vật ăn rau, củ, quả thì hệ tiêu hóa dài gấp 12 lần chiều dài của thân thể nên chúng ta cần nhiều thời gian hơn để tiêu hóa và bài tiết. Ngược lại đối với loài ăn thịt như hổ có hai phần ruột, phần ruột non thì rất ngắn và phần ruột già thì rất thẳng và mịn.
Vì thế, mỗi lần con người chúng ta ăn chay thì cảm thấy nhẹ nhàng và ngược lại, nếu ăn mặn thì cảm thấy nặng nề, khó chịu và buồn ngủ. Bởi vì, lúc đó thận phải làm việc nhiều để thanh lọc những độc tố từ thịt đưa ra khỏi máu và đào thải ra ngoài bằng đường bài tiết. Đối với những người trẻ tuổi, thận còn khỏe mạnh thì chưa ảnh hưởng gì nhiều; còn với những người lớn tuổi, thận càng ngày càng yếu thì quá trình đó sẽ diễn ra khó khăn hơn. Đôi khi thận không thể loại hết những cặn bã độc tố, làm cho máu dơ, từ đó dễ sinh bệnh. Hơn nữa thịt không có chất để tạo ra tế bào, táo bón là điều rất dễ xảy ra. Chúng ta cũng biết rằng, táo bón có thể gây ra ung thư ruột, bệnh trĩ… Ăn nhiều chất mỡ động vật thì sẽ dễ bị bệnh sưng gan hay sưng lá lách và làm giảm sự sinh trưởng tế bào. Chất Cholesterol và chất mỡ của động vật là gây ra bệnh tim và là một trong mười lý do làm chết người nhiều nhất ở Đài Loan.
Và không phải đợi đến khoa học, y học bây giờ mới nghiên cứu, mà theo các nhà nghiên cứu cổ hay các nhà thực vật học thì họ nguyên cứu rằng ăn những thực phẩm ngũ cốc, rau củ thì cơ thể của họ khỏe khoắn hơn, ít có bệnh nặng hơn so với những người ăn thịt cá, thực phẩm từ động vật. Trở về quá khứ hàng ngàn năm trước, đến cái nôi của văn hóa ăn chay, đó là xứ Ấn Độ. Quan điểm ăn chay được thiết lập trong đời sống cộng đồng con người từ ngàn xưa. Ăn chay thì có nhiều phương cách hay mục đích ý nghĩa của việc ăn chay. Mỗi tôn giáo có quan điểm, chủ thuyết ăn chay khác nhau. Không riêng gì Phật giáo mà Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Kitô giáo… cũng có thuyết ăn chay nhưng ăn như thế nào, vào thời điểm nào, rồi phương cách ăn ra sao thì mỗi tôn giáo mỗi khác. Riêng với đạo Phật thì vì Phật giáo xuất phát từ Ấn Độ, mà nền văn minh cổ đại của Ấn Độ từ khi Đức Phật Thích Ca chưa ra đời thì người ta đã ăn chay rồi. Và đến bây giờ, sau hơn hai ngàn năm thì người dân Ấn Độ vẫn chuộng việc ăn chay, ăn ngũ cốc nhiều hơn thịt cá.
Tuy nhiên, cũng có nhiều người nói rằng, ăn chay không đảm bảo được sức khỏe và dinh dưỡng. Quan điểm này thường xuất phát từ những người vừa tập ăn chay và nhất là vì phương cách ăn chay của họ không đúng. Kế đến là do nhiều người thiếu thời gian, cộng với thiếu hiểu biết về thành phần dinh dưỡng nên khi ăn chay họ ăn vội, ăn đại khái cho xong. Nhưng họ không biết rằng ăn như vậy thì ảnh xấu đến sức khỏe là điều tất yếu. Họ ăn không đủ chất hoặc đưa vào cơ thể lượng dinh dưỡng này nhiều quá, mà lượng kia thiếu nên lượng dinh dưỡng không quân bình trong cơ thể mà dễ sinh bệnh. Còn người ăn đúng cách, đủ chất thì không bệnh gì cả, trái lại còn rất khỏe.
3. Ngoài ý nghĩa của việc ăn chay đối với sức khỏe của con người thì trong tôn giáo, nhất là Phật giáo việc ăn chay còn có một ý nghĩa sâu sắc hơn là thể hiện lòng từ bi. Trong đạo Phật thì lòng từ bi ở đây là do mình thương yêu các loài vật và mình nghĩ rằng mình có mạng sống thì chúng cũng có mạng sống; mạng sống của mình thì mình tôn trọng nên mình phải tôn trọng các mạng sống khác. Từ loài côn trùng nhỏ nhất ta phải thương chúng vì chúng có mạng sống, chúng nó cũng có cái thức biết dù cái thức ấy yếu. Nhưng theo Phật giáo Phát triển hay Phật giáo Đại thừa thì tất cả chúng sinh đều có Phật tính và chúng sinh đó sẽ thành Phật trong tương lai. Chúng ta giết chúng sinh ấy để ăn thì giống như mình giết một vị Phật tương lai vậy. Mình cắt đứt điều kiện để vị Phật này phát triển và hoàn thiện dần. Vì thế việc ăn chay, ngoài lòng từ bi cao cả là do mình thấy, biết thương các loài chúng sinh ấy như thương thân mình thì mình phải còn phải kính trọng chúng sinh đó tức là tôn kính với một vị Phật tương lai ở trong chúng sinh.
Người có giác ngộ, có trí tuệ, có hiểu biết thì mới có thể thể hiện lòng từ bi đúng mức nếu không thì mình chỉ vì thương hại, mình chỉ sợ là quả báo. Vì quả báo, vì lòng thương thì cũng đúng nhưng nó chỉ ở tầng mức và ý nghĩa của việc ăn chay như thế mới chỉ là tự lợi mình mà chưa lợi tha tức là lợi cho tất cả chúng sinh, tức là tôn trọng mạng sống của chúng, tôn trọng chúng sanh ấy như là một vị Phật, vị Bồ Tát trong tương lai. Đó mới chính là tinh thần cao cả của Phật giáo trong việc ăn chay.
4. Ăn chay và diệt dục. Ngoài những ý nghĩa của việc ăn chay đã nêu trên thì ăn chay còn có liên quan mật thiết đến việc giáo dục về tâm sinh lý của con người, cụ thể đó là vấn đề “diệt dục”. Dục ở đây là ham muốn về quan hệ thể xác. Vậy ăn chay tại sao lại có thể diệt dục được? Thoạt nghe câu hỏi này, nhiều người sẽ cho rằng ăn chay là tu, mà tu thì phải từ bỏ, đoạn diệt vấn đề đó. Tôi nhớ cách đây không lâu, vị sư là thầy tôi có giới thiệu một người đệ tử là Phật tử mới quy y để chia sẻ những vấn đề tu tập cơ bản nhất. Tôi có hỏi câu tương tự trên và cũng nhận được câu trả lời tương tự. Tôi hỏi tiếp, vậy bạn đã quy y, bạn có dám chắc là khi bạn ăn chay bạn sẽ từ bỏ luôn ái dục? Bạn ấy mỉm cười… Bạn ấy đã có gia đình! Nói tu là từ bỏ ái dục, điều này chỉ đúng ở hàng tu sĩ xuất gia, còn đối với hàng Phật tử tại gia thì chỉ cấm “tà dâm”, còn quan hệ trong hôn nhân vợ chồng thì không có trong giới cấm đối với cư sĩ.
Quan trọng nhất của ăn chay, diệt dục nằm ở vấn đề dinh dưỡng, y học. Trong thực phẩm chay thì hàm lượng dinh dưỡng không quá dư thừa, không quá béo bổ so với các loại thực phẩm từ động vật khác mà đặc biệt là não khỉ, trứng vịt lộn… vốn nhiều đạm, béo, protein… Khi ăn nhiều những thực phẩm bổ dưỡng ấy thì cơ thể con người dư năng lượng và dinh dưỡng. Chính năng lượng dư thừa này sẻ làm tăng ham muốn ái dục của con người. Mà điều đó làm cản trở lớn nhất cho con đường tu tập của người tu sĩ, Phật tử. Ngược lại, việc ăn thức ăn chay tịnh với rau, củ quả vốn không giàu dinh dưỡng đạm, béo… khiến tiêu hóa dễ dàng, thân tâm hành giả cảm thấy nhẹ nhàng, thúc đẩy quá trình tu tập mau thành quả.
Cho nên một hành giả tu tập họ tiết chế trong ăn uống, không những không ăn chiều, không ăn tối mà không ăn những thực phẩm nặng nhọc và hàm lượng dinh dưỡng cao. Trong nhà Phật với hàng tu sĩ xuất gia thì có chia ra 2 loại thực phẩm là thực phẩm cứng và thực phẩm mềm. Thực phẩm cứng là cơm, canh, bánh, trái các loại. Còn thực phẩm mềm là thực phẩm dạng lỏng như sinh tố, thực phẩm mà dùng không cần nhai, nghiền thì đó là thực phẩm mềm. Buổi chiều, tu sĩ dùng những thực phẩm ấy thì không phạm luật, phạm giới là cấm ăn chiều; trừ những trường hợp bệnh hoạn, ốm đau thì tu sĩ được phép ăn chiều với thực phẩm cứng như một thuốc chữa bệnh.
Trường chay và ăn chiều nhẹ là để thể hiện nhiều ý nghĩa mục tiêu của việc ăn chay đã nêu. Đó là lòng từ bi với muôn loài muôn vật, thể hiện sự công bằng đối với sức lao động của người, tránh đi quả báo sát hại về sau như yểu mạng, không có chuyện giết thân kẻ khác nuôi thân mình để được trường thọ. Trong Kinh có nói đến việc “ai cũng ham sống và sợ chết, phải suy ta mà ra lòng người, chớ giết và bảo giết là vậy”. Vì những ý nghĩa đó mà người Phật tử theo Phật giáo đại thừa phát tâm ăn chay.
5. Một câu hỏi thú vị được đặt ra là, nếu nói việc ăn chay là để thể hiện lòng từ bi, tôn trọng mạng sống chúng sinh, tôn trọng Phật tính trong mỗi chúng sinh, diệt dục… thì hàng tu sĩ thuộc phái Nam Tông họ không được khuyến khích ăn chay thì họ không có những đức tính kể trên hay sao? Như vậy thì họ tu cái gì và tu như thế nào?! Hàng ngàn năm qua cho đến bây giờ thì đây vẫn là một điều tế nhị, vẫn còn tranh cãi trong việc tu tập theo quan điểm, tư tưởng và truyền thống của mỗi bộ phái. Sự mâu thuẫn này được giới tu sĩ giải thích dựa vào điều luật trong Kinh sách và lịch sử cuộc đời của Đức Phật Thích Ca mâu Ni.
Ngày xưa, theo Kinh sách thì thời Đức Phật còn tại thế, mặc dù Người không chủ trương giết thát các loài súc vật để thể hiện lòng nhân từ nhưng trong 227 giới Pháp của các thầy Tỳ Kheo (khất sĩ nói chung) cho đến bây giờ không có giới nào là cấm thầy Tỳ Kheo ăn thực phẩm xuất phát từ nguồn động vật cả. Trong chế định Phật giáo không có điều luật nào cấm đoán, bắt buộc không ăn thịt, cá mà Ngài chỉ kêu gọi thể hiện lòng từ bi, cấm giết thác muôn loài. Chính vì căn cứ trên các điều đó mà các vị trường lảo và các bậc thầy trước đó của truyền thống Phật giáo Nam Tông đã có những biện luận riêng cho việc không ăn chay của hệ phái mình là đúng chánh pháp. Họ không phạm giới luật vì họ không trực tiếp giết.
Thực phẩm từ rau của quả tốt cho sức khỏe
Và cũng xuất phát từ quan điểm này của hệ phái Nam Tông nên mới có thuyết “Tam tịnh nhục” là vậy. Ngày xưa thời của Đức Phật tại thế thì có thuyết ngũ tịnh nhục nhưng ngày nay chỉ là “Tam tịnh nhạc”. Vậy “Tam tịnh nhục” trong khái niệm về thức ăn của nhà sư Nam Tông là gì? Đó là những thực phẩm mà các nhà sư này được ăn có nguồn gốc từ động vật, nhưng đó được gọi là thịt thanh tịnh. 3 loại thịt đó là: không nghe, không thấy và không nghi ngờ vì mình mà giết. Ví dụ có một gia đình thỉnh chư tăng ngày mai đến thọ trai, thế là gia đình ấy làm thịt mấy con gà, mấy con vịt, heo, bò để thiết đãi chư tăng. Khi chư tăng nghe nói lại là những thực phẩm dành cho mình được xuất phát như vậy thì chư tăng không được dùng. Hoặc khi chư tăng đi khất thực nghe tiếng rên la của những thú vật đó bị giết bởi một gia chủ trong đó và sau đó họ mang ra cúng tế chư tăng thì chư tăng cũng không được dùng. Ngược lại những thực phẩm đã được làm sẵn, mặc dù thực phẩm ấy xuất phát từ thịt động vật thì đối với Phật giáo Nam Tông thì đó là thực phẩm hợp luật, được dùng. Ngày xưa, thời của Đức Phật thì còn có hai loại thực phẩm thanh tịnh khác là con vật bị chết trong rừng, hoặc thịt của những con vật mà chúng bị các con vật khác ăn còn xót lại. Nhưng hai loại thực phẩm này thì hiếm nên ngày nay ta thường nói là Tam tịnh nhục.
Tuy nhiên đó chỉ là quan điểm “ăn chay” của bộ phái, truyền thống, còn căn cứ theo Kinh và Luật của Đức Phật thì cấm chế các thầy Tỳ Kheo việc giết thác các loài động vật. Tại sao lại cấm chế? Tức là để thể hiện những đức tính đã kể trên như tôn trọng mạng sống của muôn loài, thể hiện lòng từ bi, thương yêu muôn loài muôn vật, tránh nghiệp quả báo, tránh tổn mạng, yểu thọ. Vì thế ăn chay là thể hiện tốt nhất những đức tính đó, không ăn chay dù không trực tiếp giết nhưng chúng ta đã gián tiếp giết. Nếu ai cũng ăn chay thì chắc chắn vấn đề giết thác các sinh mạng động vật sẽ giảm thiểu đến mức tối đa và là người tu sĩ thì nên tiên phong trong việc ăn chay với những thức ăn chay tịnh. Đó cũng chính là quan điểm của chư tăng tu theo tư tưởng của Phật giáo Phát triển.
Thiết nghĩ chúng ta không thể biện luận rằng, Đức Phật không chế định các giới pháp, giới luật thì mình tự do ăn uống. Một vị hòa thượng thuộc hệ phái Khất Sĩ chia sẻ rằng: Nếu trong một ngôi chùa Nam Tông làm lễ lớn thết đãi vài ngàn người, mình là người chủ trong ngôi chùa ấy mà mình không chỉ dạy, sắp xếp việc ẩm thực thì làm sao cư sĩ phật từ dám làm. Mình chủ trương thết đãi bằng thực phẩm chay lạc, bế tắc lắm thì phải mua thực phẩm “mặn” từ bên ngoài chứ đừng giết thác trong chùa. Nâng lên một bậc cao hơn nữa thì không nên dùng những thực phẩm mặn ấy thết đãi chư tăng vì chư tăng là người thể hiện sự tu tập mà người tu tập thì thề hiện nhiều đức tính, trong đó có từ bi, thương yêu muôn loài muôn vật. Nên tốt nhất chúng ta, nhất là hàng tu sĩ nên dùng thực phẩm chay lạc hơn là thực phẩm từ thịt động vật có sẵn này.
Tuy nhiên, hiện tại thì một số nhà sư chưa làm được như vậy vì họ chưa vượt thoát ra được rào cản trong tông môn hệ phái, truyền thống, quan điểm tư tưởng, đặc biệt là ảnh hưởng đến quốc độ thời gian và không gian nơi đó. Ví dụ, có nhiều nước không thể có nhiều loại thực phẩm từ thực vật, ngũ cốc dồi dào được thì họ dùng tạm thực phầm từ thịt nêu trên. Ví dụ như sang các nước sa mạc hoang vu, tuyết phủ quanh năm… họ phải dự trữ những thực phẩm từ động vật bằng cách phơi, nướng… Nhưng qua xứ như Việt Nam chúng ta thì không nên ăn thực phẩm từ thịt động vật vì ngũ cốc dồi dào, thực phẩm chay lạc dễ tìm kiếm. Do những quan điểm trên mà người tu theo Phật giáo Phát triển hay còn gọi là Phật giáo Bắc Tông, Bắc Truyền, Phật giáo đại thừa trong đó có hệ phái Khất Sĩ do Tổ sư Minh Đăng Quang đã chủ trương là chỉ ăn thức ăn chay tịnh, có nguồn gốc từ thực vật. Cũng xin nói thêm rằng, ở Việt Nam có 3 truyền thống Phật giáo chính đó là Nam Tông, Bắc Tông và Khất Sĩ. Trong đó Bắc Tông và Khất Sĩ thì ăn chay còn chư tăng và tu nữ của phật giáo Nam Tông thì còn dùng thực phẩm mặn.
6. Ngoài những ý nghĩa cũng như những đức tính được thể hiện trong việc ăn chay đã kể trên thì ăn chay còn có một ý nghĩa khác đó chính là kiềm thúc thân, tâm trước những ham muốn về dục lạc bộc phát. Nhất là tham ăn những thực phẩm thịt, cá, những thực phẩm chế biến từ những thứ béo bổ từ sinh mạng chúng sanh khác để bồi bổ cơ thể rồi dẫn đến tham khoái lạc về xác thịt. Theo nhà Phật thì khi mình chiều theo khẩu nghiệp như thế thì sẽ trói buộc mình trong nghiệp báo. Ta cứ giết thát và xúi người khác giết thát đề mình ăn hoặc dâng người khác ăn. Mà ăn những thực phẩm đó thì dẫn đến việc dư nguồn năng lượng trong cơ thể nên làm tăng dục tính. Và đề đảm bảo những nhu yếu về sinh học, sinh lý thì những người đó chìm đắm quan hệ xác thịt. Cho nên những người nào quá chú trọng việc ăn uống nhiều thịt, cá thì đó là những người đa dục. Đặc biệt nói về ái dục.
Một số cư sĩ hiện nay cho rằng, mình ăn chay nhưng tùy theo sự tiện lợi tức là lúc ăn chay có thể ăn thịt cá được miễn sao mình không trực tiếp giết thác các loài thì không mang tội và không mang nghiệp báo. Tôi đã gặp nhiều quan điểm như thế của các cư sĩ. Dễ thấy quan điểm trên tương đồng với quan điểm về việc “ăn chay” của hệ phái Nam Tông. Như đã phân tích ở trên, quan điểm này nếu đứng theo gốc độ của bộ phái, truyền thống trong kinh luật của Đức Phật thì có những lý lẽ riêng để biện luận. Song thiết nghĩ, nếu đã phát tâm ăn chay mà ăn như vậy thì không còn là ăn chay nữa. Chay có nghĩa gốc là trai, tức là trai giới, là sự trong sạch. Chúng ta hay nghe nói đến Trai tịnh. Tịnh là trong sạch, trai là trì trai giữ giới tức người đó thúc liệm thân tâm, sự tu tập trong sạch để giữ gìn đời sống trong sạch, phạm hạnh. Một trong những ý trong đời sống trong sạch, phạm hạnh đó là không giết thát để ăn uống, quan hệ tính dục. Không riêng gì nhà Phật từ mà thời Vua chúa ngày xưa khi cầu mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an thì họ cũng phải ăn chay nằm đất trong mấy ngày để sạch sẻ thân và tâm; vào những ngày đó thì vua không đến hậu cung. Đó là trai giới trong sạch. Ăn chay mà nói ăn những thực phẩm mặn có sẵn thì đó không phải là ăn chay. Việc đó chỉ gọi là kiêng cử không sát sanh mà thôi. Theo quan điểm nhà Phật nói riêng và các tôn giáo nói chung thì ăn chay là không ăn thịt các sinh mạng của thú vật mà chỉ ăn các thực vật.
7. Nếu người phát tâm ăn chay nhận thức rõ ràng được mục tiêu và ý nghĩa của việc ăn chay thì người phật tử nói riêng và mọi người nói chung đều ăn chay một cách dễ dàng và ý nghĩa, đúng đắn. Chúng ta không nên ăn chay như trả nợ quỷ thần đó là những quan niệm ăn chay lệch lạc cần phải lên tiếng, xây dựng và góp ý. Ăn chay như vậy thì không còn ý nghĩa ăn chay cao thượng qua các tiêu chí như đã nói. Việc ăn chay đó chỉ lợi mình, không lợi người và cũng không phải lợi cho đời này đời sau. Ăn chay có ý nghĩa là lợi mình, lợi người, lợi chúng sinh, cả đời này lẫn đời vị lai. Ăn chay không chỉ để tránh quả báo, không chỉ dừng lại ở lòng từ bi mà còn tôn trọng sự công bằng của mạng sống…
Theo bình diện tổng thể đối với xã hội liên quan đến y học thì việc ăn chay bây giờ rất hợp thời. Đặc biệt là người phương Tây, ở các nước Bắc Mỹ, Âu Mỹ bây giờ người ta ăn chay nhiều, không phải họ theo Phật giáo mà trước tiên là để giữ gìn sức khỏe, tránh đi những bệnh tật, truyền nhiễm, hạn chế tối đa những bệnh béo phì, cao huyết áp…
Để cho việc ăn chay của hàng cư sĩ Phật tử nói riêng và mọi người nói chung trong buổi đầu được như ý thì trước tiên phải hiểu rõ về ý nghĩa và phương pháp ăn chay cũng như lợi ích của việc ăn chay. Đặc biệt là phải hiểu ý nghĩa của việc ăn chay, nếu không hiểu thì việc ăn chay giống như kiểu buôn thần bán thánh, mang tính trao đổi thì không đúng. Khi ăn chay chúng ta phải hiểu ý nghĩa của nó để trưởng dưỡng những đức tính tốt đẹp kể trên; hiểu được như vậy thì người ăn chay có thể tĩnh tâm trong việc ăn chay. Và khi đó dù có người nói ra nói vào thì họ đều quyết tâm theo quyết định của họ mà không bị lung lay. Kế đến là phải biết phương pháp ăn chay, nấu chay để có thể đảm bảo được hàm lượng dinh dưỡng cho cơ thể. Khẩu phần ăn phải đảm bảo sức khỏe. Ăn chay để bảo tồn sức khỏe, để tránh bệnh tật mà ăn chay không khéo đúng cách và hàm lượng dinh dưỡng không đủ thì lại sinh ra bệnh. Cán bộ, công nhân viên chức không có thời gian để ăn thì nên đến những tiệm ăn chay để có thể chọn những thực phẩm hợp với khẩu vị và sức khỏe của mình.
Trong kinh Đức Phật có dạy rằng, phải biết chọn lựa thức ăn và bệnh thì phải từ cữ ăn, ý nói thường có những thực phẩm mình thích ăn nhưng giờ mình bệnh thì phải kiêng cữ, trong thực phẩm chay cũng vậy. Mình phải biết chọn lựa và biết thực phẩm nào vào thời điểm nào là hợp lý. Mặt khác, việc ăn chay cũng có khả năng kích thích tính dục nếu ta ăn uống theo kiểu phóng dật, không chuẩn mực, điều độ. Bởi vì trong thực phẩm chay nhiều loại cũng giàu dinh dưỡng, nên nếu ta ăn dư thừa thì vẫn dẫn đến tình trạng dư thừa năng lượng, dinh dưỡng như chúng ta ăn mặn vậy. Điều đó cũng nói lên ý nghĩa của việc các chư tăng theo luật thì chỉ được ăn cơm, gọi là “thọ trai” không quá giờ Ngọ và không được ăn thức ăn cứng vào chiều hay tối là thế!
Hư Trúc
(Năng lượng Mới số 136, ra thứ Ba ngày 10/7/2012)
Ăn chay kiểu Tây
Thứ Ba, tháng 2 05, 2013
Ẩm thực chay
Gà rán thơm giòn, hamburger tươi mát… quen mà lạ, ngon và đẹp. Những món chay kiểu này đang thu hút những người ăn chay, đặc biệt là giới trẻ.
Đồ chay tươi… thanh tịnh
![]() Hambuger chay |
Nhu
cầu ăn chay có xu hướng chuyển biến rõ rệt. Cách đây vài chục năm,
người ăn chay chỉ có thể thưởng thức các món ăn đơn giản chế biến từ đậu
hũ, rau củ tươi. Sau đó, các sản phẩm chay khô ngoại nhập chiếm lĩnh
thị trường tạo nên làn sóng mới. Và hiện nay, người tiêu dùng đang quay
trở lại kiểu chay thanh tịnh như xưa. Đây cũng là cơ hội cho các nhà
kinh doanh ẩm thực, đầu bếp tung ra nhiều “chiêu” mới đáp ứng nhu cầu
của thực khách. Cũng các nguyên liệu từ thiên nhiên nhưng được chế biến
cầu kỳ và mới lạ hơn. Các món chay kiểu Tây như pizza, hamburger, gà
rán… đang thu hút nhiều thực khách, đặc biệt là giới trẻ.
Bà
Nguyễn Thị Thanh Loan, giám đốc nhà hàng Phố chay cho biết, qua một cuộc
khảo sát nhỏ của nhà hàng cho thấy, xu hướng của giới trẻ hiện nay,
nhất là lứa tuổi thiếu niên ở Việt Nam rất thích dùng thức ăn nhanh của
KFC, Lotteria… Vì vậy, Phố chay đã tung ra các sản phẩm chay theo kiểu
thức ăn nhanh này từ tháng giêng năm nay và được hưởng ứng nhiệt tình.
Có thể nói, pizza chay, hamburger chay, gà rán chay… là những món ăn ưa
thích của giới ăn chay ở phương Tây. Còn ở Việt Nam, đây là món Tây phục
vụ cho người ăn chay.
Bí quyết làm món chay kiểu Tây chủ yếu dựa
vào gia vị. Đặc trưng của món Tây là tinh bột, phômai, bơ và gia vị đặc
biệt như lá thơm. Phối hợp các nguyên liệu sẽ tạo ra một hương vị đặc
trưng của thức ăn Âu. Vì thực phẩm có nguyên liệu chủ yếu là phômai, bơ,
rau củ quả nên có giá trị dinh dưỡng cao. Bà Loan cho biết, miếng
bíttết hấp dẫn kẹp trong món hamburger được làm từ đậu hũ tươi, hoặc
“thịt gà” trong món gà rán làm từ đậu hũ ky thêm vào một số gia vị Âu,
tạo ra hương vị giống như hamburger hay gà rán mặn.
Miếng “bíttết”
màu nâu, thơm lừng quyến rũ nằm trên lớp xà lách xanh mát, phía trên là
lát cà chua đỏ, lớp phômai trắng tan chảy hấp dẫn. Tất cả làm nên miếng
hamburger chay có các vị béo, chua, mặn, ngọt thật vừa miệng mà không
ngán. Món pizza chay được gia giảm nguyên liệu tuỳ theo sở thích của
người ăn như phômai, trái ôliu đen, bông cải xanh, cà chua, ớt chuông,
cà rốt, hành tây, nấm, bắp… Pizza chay bắt mắt với màu đỏ cà chua, xanh
rau cải, màu trắng phômai, màu đen của ôliu, vàng của vỏ bánh khiến món
ăn càng thêm quyến rũ. Với hamburger, nếu đầu bếp không bảo đó là
hamburger chay thì có lẽ thực khách khó lòng nhận ra.
Ngoài ra,
các món như mì Ý, rong biển chiên, bánh rau chiên, củ quả xiên que
chiên, khoai tây chiên, sandwich nướng, xà lách trộn… tạo nên phong cách
ăn chay hiện đại.
Ăn chay đúng cách
Bác
sĩ Nguyễn Thị Kim Hưng, chuyên gia dinh dưỡng cho biết, dựa theo các
đặc điểm về bộ răng, độ dài ruột, hệ thống tiết mồ hôi… cho thấy con
người là động vật ăn chay. Ăn chay là ăn đúng thực phẩm thì đương nhiên
nguy cơ bệnh tật ở con người sẽ giảm. Có ba loại thực phẩm ưu tiên trong
ăn chay. Một là các thực phẩm nguyên, chưa chế biến. Hai là thực phẩm
tươi sấy khô hoặc đông lạnh. Ba là thực phẩm chế biến khô như sườn, gà…
lấy chất đạm từ ngũ cốc. Các thức ăn chay được chế biến quá nhiều, chất
béo, muối, bột ngọt, dầu… quá nhiều, cộng thêm không vận động sẽ khiến
cơ thể bị gan nhiễm mỡ, cholesterol và một số bệnh khác. Tuy nhiên, ăn
chay đúng cách không phải là tất cả mà sức khoẻ còn tuỳ thuộc vào các
yếu tố khác như trạng thái tinh thần, cảm xúc…
Một sư cô ở chùa
Vĩnh Phước (quận 12) cho biết: “Món ăn ngon và tốt là do được chăm chút
với những thực phẩm mà không dùng chất điều vị và những chất tẩm ướp,
nêm nếm khác. Ví dụ, khi nấu canh chua, nêm muối hột và đường phèn sẽ
làm cho canh ngọt, mát mà đậm đà”.
TS.BS Nguyễn Hữu Toản, trưởng
khoa dinh dưỡng bệnh viện Chợ Rẫy cho biết, đồ chay phần lớn làm từ
nguyên liệu chính là đậu nành. Đậu nành có lượng đạm cao hơn thịt. 100g
đậu nành chứa 30g đạm, trong khi 100g thịt heo nạc chỉ có 19,6g đạm. Các
loại đậu, rau củ quả, nấm rất giàu vitamin và chất khoáng, giúp chống
loãng xương, giảm các triệu chứng tiền mãn kinh, chống oxy hoá, chống
lão hoá, làm đẹp da, tóc… Các hoá chất như hàn the sử dụng trong chế
biến thực phẩm đã có từ lâu, chúng không gây nguy hại trước mắt nhưng có
tác hại lâu dài khi dùng nhiều, trong thời gian dài như gây đột biến
gen, ung thư và các tổn thương khác.
Bác sĩ Kim Hưng tư vấn, nên
mua đồ chay khô có in nhãn hiệu bao bì của các công ty lớn để an tâm
không có hàn the, gia vị bị cấm sử dụng.
Theo SGTT

























