Ý nghĩa và lợi ích của vũ điệu Tám Hóa thân Đức Liên Hoa Sinh

Sự xuất hiện của Kim cương Thượng sư Liên Hoa Sinh trong cõi Sa bà đã được Đức Phật Thích Ca huyền ký trong nhiều kinh điển. Đức Phật cũng đã dạy rằng Đức Liên Hoa Sinh chính là Đức Phật A Di Đà trong hình tướng loài người. Vào thế kỷ thứ 8, Đức Liên Hoa Sinh đã từ Ấn Độ đến vùng đất tuyết, hàng phục các quỷ thần quấy nhiễu người dân và cải hóa họ thành các Hộ pháp của Đạo Phật, xây dựng các tự viện, trao truyền giáo pháp Kim Cương thừa của Đức Phật Thích Ca cho người dân trên khắp dãy Himalaya. Ngài thị hiện vô số thần thông nhưng hơn hết, lòng từ bi và trí tuệ giác ngộ của Ngài đã cảm hóa toàn bộ người dân tại vùng đất này, bởi vậy người dân và Phật tử khắp nơi luôn tin kính Ngài là hóa thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.


Xét về tự tính tuyệt đối, các Bậc Giác ngộ không rời Pháp thân, nhưng với lòng từ bi, các Ngài thị hiện vố số hình tướng các Báo thân và Hóa thân để chúng sinh có thể kết nối và được lợi ích. Các Ngài sẽ hóa thân thị hiện tùy thuận theo nhu cầu và căn cơ của chúng sinh. Từ Pháp thân, đức Phật A Di Đà hóa hiện Báo thân là đức Phật Quan Âm, và Hóa thân là Đức Liên Hoa Sinh. Cũng như vậy, tuy an trụ trong tự tính tâm bất khả tư nghì, Đức Liên Hoa Sinh cùng lúc thị hiện vô số hóa thân với các công hạnh khác nhau để mang sự giải thoát cho chúng sinh. Trong số đó, có 8 Hóa thân với các công hạnh chính của Ngài được người dân Himalaya tán thán và tưởng nhớ qua các giáo pháp cũng như qua Vũ điệu Tám Hóa thân Liên Hoa Sinh. Hàng năm, tại các lễ hội tâm linh đặc biệt tại các Phật địa, chư tăng sẽ cử hành vũ điệu này trước sự tham gia đông đảo của người dân, những Phật tử thuần thành với mong nguyện đón nhận sự gia trì và cảm hứng tu tập từ một bậc toàn giác.

Chính Đức Liên Hoa Sinh đã dạy lại cho chư Tăng vũ điệu này và nói rằng khi vũ điệu được cử hành ở bất cứ đâu, Ngài sẽ thị hiện ở nơi đó và những Phật tử chí thành sẽ đón nhận sự gia trì trực tiếp từ Ngài. Theo truyền thống, vũ điệu chỉ được cử hành ở các vùng Phật tích linh thiêng, vào thời điểm cát tường (ví dụ như ngày 10 lịch Tạng là ngày vía Đức Liên Hoa Sinh). Các vị Tăng cử hành vũ điệu phải là các hành giả cao cấp, phải thiền định trong nhiều tháng trước khi cử hành vũ điệu để có thể hợp nhất thân và tâm với Thượng sư Liên Hoa Sinh, nhằm qua vũ điệu này, truyền tải trọn vẹn nguồn gia trì từ Đức Liên Hoa Sinh tới tất cả chúng sinh tham dự nghi lễ. Bởi vậy, đây không chỉ là một vũ điệu đặc sắc mà còn là một nghi thức vô cùng linh thiêng, minh chứng cho sự thiện xảo của Kim Cương Thừa với năng lực tịnh hóa và giải thoát chỉ nhờ chiêm bái.

Vũ điệu 8 Hóa thân Liên Hoa Sinh thường là một phần của một lễ hội tâm linh kéo dài 3 ngày cho đến 1 tuần, và là cao trào của toàn bộ lễ hội, được cử hành vào ngày cuối cùng sau khi các Phật tử tham dự lễ hội đã trải qua các nghi thức tịnh hóa và tiêu trừ chướng ngại, thân tâm thanh tịnh để sẵn sáng đón nhận ân phúc gia trì. Trong âm thanh vũ điệu Kim Cương, Hóa thân chính Guru Rinpoche sẽ xuất hiện cùng 8 Hóa thân:


Guru Pema Jungney, ‘Diamond-Thunderbolt Born from a Lake’, Ngài mang mặt nạ xanh với ba mắt, đội vương miện ngũ trí (hoặc năm đầu lâu), cầm trên tay Chày Kim cương và Chuông Kim cương. Danh hiệu này xuất phát từ sự tích đản sinh của Ngài. Ngài không sinh ra từ bụng mẹ mà hóa sinh trong một đóa hóa sen xanh giữa một hồ nước ở xứ Udiyana (Pakistan ngày nay) trong hình tướng đồng tử. Đức vua của xứ này là Indrabodhi khi đó không có con nên đã nhận Ngài làm con nuôi và dự định trao ngai vàng cho Ngài. Hoa sen, loài hoa tinh khiết, dù mọc lên giữa bùn lầy nhưng không bao giờ bị vướng bẩn mùi tanh của bùn, nêu biểu cho tự tính trong sáng của tâm, không bao giờ bị ảnh hưởng bởi các xúc tình. Hóa thân này có ý nghĩa khi sinh ra Đức Liên Hoa Sinh đã đầy đủ các phẩm chất giác ngộ, tự tại sinh tử.


Guru Shakya Sengye, ‘Lion of the Shakya Family’, với chiếc mặt nạ là diện của đức Phật và tóc kết lọn xanh, Ngài mang trên mình Tăng phục màu vàng, trên tay Ngài là bình bát. Đức Liên Hoa Sinh được kính ngưỡng là một hóa thân của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, và cũng giống như đức Phật Thích Ca, khi còn là Thái tử thừa kế ngôi vua, Ngài đã xả ly tất cả vinh hoa phú quý, thực hành thiền định tại nhiều nơi để đạt giác ngộ giải thoát và có thể cứu độ chúng sinh. Trong hóa thân này, dù đã là một bậc giác ngộ từ khi đản sinh, Ngài vẫn lấy thân mình làm gương cho chúng sinh, thọ nhận giới phẩm và qua đó nhận Truyền thừa bắt nguồn từ Đức Phật, thực hành giới, định, tuệ để đạt giác ngộ, hoằng truyền giáo pháp cứu độ chúng sinh. Những chân lý vũ trụ được Ngài tuyên thuyết được ví như tiếng hống của sư tử, đánh thức chúng sinh khỏi giấc ngủ mê trong vô minh.


Guru Nyima Oezer, ‘Sunbeam’, khoác y màu vàng, mặt nạ vàng với râu màu xanh, trên tay Ngài là pháp khí nêu biểu các tia sáng của mặt trời. Ngài thực hành thiền định trong nhiều năm tại các nghĩa địa và khu đất hỏa táng, thọ nhận giáo pháp mật thừa từ các Dakini và thành tựu các tantra, hàng phục quỷ thần và cải hóa họ thành những bản tôn hộ trì Phật pháp. Trong một lần thị hiện năng lực của mình, ngài đã khiến mặt trời dừng không lặn trong nhiều giờ, và đã được tôn kính với danh hiệu này.


Guru Loden Chogse, ‘He Who Wishes to Acquire Supreme Knowledge’, Ngài mang mặt nạ đỏ, tóc Ngài kết búi và trên đầu đội vương miện, với y màu đỏ, trên tay cầm trống và bảo bình. Sau khi thọ nhận giáo pháp Kim Cương thừa từ các bậc đại học giả của Ấn Độ và thành tựu các pháp thực hành, các bản tôn hộ trì đã hiển diện trước Ngài.


Guru Padmasambhava, ‘Liên Hoa Sinh’, khoác trên mình y của tăng, mang mặt nạ trắng với mũ thiền trí. Trong hóa thân này, Ngài đã tới xứ Zahor và nhận công chúa Mandavara, một bậc Dakini giác ngộ, làm minh phi trí tuệ. Tức giận vì tưởng con gái của mình đã bị người lạ này mê hoặc, vua xứ Zahor cho bắt và thiêu sống Ngài. Đức Liên Hoa Sinh đã để cho quân lính bắt trói, rồi thị hiện biến đống củi đốt dưới chân thành một hồ nước và an tọa trên một đóa hoa sen ở giữa hồ nước này. Kinh ngạc và nhận ra bậc giác ngộ trước mặt, đức vua và người dân đỉnh lễ và cúng dàng vương quốc lên Đức Liên Hoa Sinh. Ngài từ chối ngai vua nhưng ở lại nơi này ban truyền giáo pháp trong nhiều năm, giúp 100,000 người dân xứ Zahor đạt giác ngộ. Hồ nước nơi Ngài thị hiện thần thông được đặt tên là Tso Pema, nằm tại Ấn Độ ngày nay và là một điểm hành hương quan trọng của vô số Phật tử.


Guru Pema Gyalpo, ‘ Liên Hoa Vương’, Ngài mang mặt nạ trắng, đầu đội vương miện bá vương, trên hai tay Ngài là một chiếc trống và Chuông Kim cương. Trong chuyến thăm quê hương sau khi Ngài thành đạo, vị vua mới của đất nước muốn thiêu chết Ngài nhưng lửa thiêu trong nhiều ngày không tài nào làm hại đức Liên Hoa Sinh. Nhận ra đây là minh chứng cho thành tựu tâm linh của Ngài, họ quy y Phật pháp và cúng dàng ngai vua lên Ngài.


Guru Sengye Drathok, ‘He with the Voice of a Lion’, khoác trên mình y màu xanh, Ngài mang mặt nạ xanh tướng uy mãnh với ba mắt, vương miện đầu lâu, trên tay cầm chày Phổ ba Kim cương. Trong lịch sử Đại học Phật giáo Nalanda (Ấn Độ), có một lần 500 pháp sư huyền thuật đã thách đấu với các học giả trong trường với mục đích hủy hoại Phật pháp. Khi các học giả đang yếu thế trước ngoại đạo, một Dakini đã xuất hiện, dạy cho các vị bài kệ Bảy Lời Cầu Nguyện Đức Liên Hoa Sinh để thỉnh cầu Ngài trợ giúp. Sau đó, Đức Liên Hoa Sinh đã xuất hiện, trợ giúp các học giả Nalanda trong hùng biện cũng như đẩy lùi huyền thuật. Khi các bậc thầy ngoại đạo định dùng phép thuật để sát hại Ngài, Ngài thị hiện thân uy mãnh, đánh tan tà thuật với sấm chớp, rồi phát ra tiếng hống như của sư tử, âm thanh của chân lý tuyệt đối làm thức tỉnh tà kiến bên trong các bậc thầy ngoại đạo.


Guru Dorje Droloe, ‘Liberated Diamond-Thunderbolt’, Ngài mang một chiếc mặt nạ uy mãnh màu đỏ với 3 mắt, tay Ngài trì giữ chày kim cương với một chiếc khăn khatag được buộc ở chuôi chày. Dorje Droloe là hóa thân Phật Uy mãnh và trí tuệ của Đức Liên Hoa Sinh. Ngài cưỡi trên lưng một con hổ được minh phi trí tuệ hóa thành, bay đến và thiền định tại các hang động được đặt tên là “Hang Hổ” tại khắp dãy Himalaya, trong số đó nổi tiếng nhất là hang động Taksang tại Bhutan ngày nay. Ngài hàng phục các quỷ thần chuyên phá hoại Phật pháp và buộc họ phải phát nguyện hộ trì giáo pháp.

Trong nghi thức vũ điệu Tám Hóa thân, hóa thân chính Guru Rinpoche (mặt nạ với diện Đức Liên Hoa Sinh đầu đội mũ hoàng gia của Ngài) thường xuất hiện đầu tiên, hai bên Ngài là hai minh phi trí tuệ là Mandavara và Yeshe Tsogyal, cùng một thị giả cầm lọng ở sau. Theo sau ngài lần lượt theo thứ tự là Guru Dorje Droloe (mặt nạ đỏ uy mãnh), Guru Senge Drathok (mặt nạ xanh uy mãnh), Guru Nyima Ozer (mặt nạ vàng), Guru Loden Chogse (mặt nạ đỏ), Guru Padma Gyalpo (mặt nạ trắng), Guru Padmasambhava (mặt nạ trắng, mũ thiền giả), Guru Pema Jungney (mặt nạ xanh), và cuối cùng là Guru Shakya Senge (mặt nạ với diện đức Phật Thích Ca).

Các Hóa thân đứng thành vòng tròn hoặc hai hàng và cùng phô diễn vũ điệu, sau đó cùng an tọa và ban gia trì cho các thành viên tham dự buổi lễ. Các bản tôn daka, không hành mẫu dakini, thiên nhân mang các sức trang hoàng bằng xương xuất hiện và tán thán Đức Liên Hoa Sinh. Rồi lần lượt từng Hóa thân cử hành vũ điệu theo lời tụng và nhạc khí cúng dàng. Bậc thượng sư giác ngộ chủ đàn cùng các bậc Thầy đang an tọa sẽ tung hoa và gạo ngũ sắc để thể hiện sự tôn kính và chào đón Đức Liên Hoa Sinh. Kết thúc vũ điệu, các Hóa thân lần lượt rời khu vực sân khấu.


Từ hơn 1000 năm nay, vũ điệu 8 Hóa thân Liên Hoa Sinh đã trở thành tâm điểm của nhiều lễ hội tâm linh trên khắp dãy Himalaya. Người dân trong khu vực của các lễ hội này thường kéo đến đông đủ để chiêm bái vũ điệu với mong nguyện đón nhận sự gia trì thanh tịnh và cảm hứng thực hành giáo pháp từ Đức Liên Hoa Sinh. Hiện nay, nghi thức này vẫn được chư Tăng Truyền thừa Drukpa cử hành tại các tự viện tại Darjeeling, Ladakh (Ấn Độ), trên khắp đất nước Bhutan, và lần đầu tiên sẽ được cử hành tại Việt Nam tại Đại Bảo tháp Mandala Tây Thiên, tỉnh Vĩnh Phúc vào tháng 09/2015. Đây quả là phúc duyên hy hữu để người dân Việt Nam được đón nhận sự gia trì tối thắng và trải nghiệm tinh hoa văn hóa nghệ thuật Mật thừa vô cùng độc đáo.


Phim - Sự Tích Lục Tự Đại Minh Đà La Ni

Pháp Môn Tịnh Độ Theo Kim Cang Thừa

Trong hoàn cảnh của chúng con hiện nay, căn cơ yếu kém và không được gần gũi các vị chân sư, chúng con có nên hướng tâm về một cõi tịnh độ không và nếu có thì nên hướng tâm đến cõi tịnh độ nào cho thích hợp?
Tulku Nyima Riponche: Không nhất thiết là vì căn cơ yếu kém, không đủ trí huệ hay phước đức mới hướng tâm về một cõi Tịnh Độ. Tuy nhiên nếu muốn hiểu cho đơn giản thì khi muốn đến được một cõi Tịnh Độ, điều quan yếu hơn cả là phải có tín tâm tuyệt đối, sau đó phải nhất tâm phát nguyện cầu vãng sanh về cõi ấy và phải miên mật tu tập theo pháp môn Tịnh Độ bất kể ngày đêm cho đến khi tâm bất loạn.
Cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà là cõi gần gũi với chúng ta hơn hết cả. Các con nên hướng tâm về cõi Tịnh Độ của Ngài vì cõi Cực Lạc của Đức A Di Đà bao gồm đủ hết tất cả những yếu tố cực kỳ tốt đẹp của tất cả những cảnh giới Tịnh Độ khác.
Tiếp theo sau đây là tóm lược bài thuyết giảng của Tulku Nyima Riponche về pháp môn vãng sinh Tịnh Độ theo truyền thống Kim Cang Thừa để bổ túc cho câu vấn ở trên. Bài giảng này được Tâm Bảo Đàn chuyển Việt ngữ dựa trên những ghi chép trong buổi thuyết pháp tại ni viện Quan Âm Phổ Chiếu, Maryland, Hoa Kỳ vào ngày 25/03/2005, theo lời thông dịch từ Tạng ngữ qua Anh ngữ của Khenpo Sonam.
Theo truyền thống Đại Thừa thì kinh điển nhắc đến cõi Tịnh Độ của Đức A Di Đà như một cõi giới ngoại tại, là một cõi giới do Đức Phật A Di Đà tạo dựng nương nơi đại nguyện của Ngài để cứu độ chúng sinh. Cõi giới này nằm bên ngoài ta.
Nhưng nếu đi sâu vào những giáo lý Kim Cang thì có thể thấy rằng Đức Phật A Di Đà hiện hữu trong ta;thân sắc này của ta chính là mạn đà la, là pháp giới A Di Đà! Đi sâu hơn nữa vào đến các giáo lý Dzogchen thì tinh hoa tâm thức siêu việt và tự tánh vô sanh của tâm chính là A Di Đà!
Có nhiều phương pháp vãng sinh Tịnh Độ nhưng tựu chung, kết quả cuối cùng là làm sao để đến được cõi giới đó. Đến được cõi Tịnh Độ rồi thì không còn lo lắng phải rơi trở lại xuống một trong sáu nẻo luân hồi nữa.
Vậy thì chúng ta nên nhìn thấy cõi Tịnh Độ như thế nào, bên ngoài ta, bên trong ta, hay chính là tự tánh chân tâm? Đối với những hành giả sơ căn thì các con có thể nhìn cõi Tịnh Độ như là một cõi giới bên ngoài ta do Đức A Di Đà tạo dựng nương nơi đại nguyện của Ngài.
Để thực hành pháp tu A Di Đà, các hành giả sơ căn cần phải biết:
(I) Quán tưởng cõi giới Tịnh Độ của Đức A Di Đà
(II) Vun bồi công đức
(III) Phát khởi Bồ Đề Tâm
(IV) Phát nguyện vãnh sanh Tịnh Độ
(I) Quán tưởng cõi giới Tịnh Độ của Đức A Di Đà
Khởi đầu, các con cần dụng công quán tưởng cõi giới đó cho thuần thục như trong kinh sách đã tả. Đây là một cõi Tây Phương Cực Lạc cực kỳ thuần khiết, thanh tịnh, đẹp đẽ, sáng ngời, với những đặc tính tối hảo, trang nghiêm nhiệm mầu. Nơi đó không có sáu nẻo luân hồi, không già, không chết, không khổ não, không đau đớn, không sân hận, không kẻ thù. Đó là cõi của Phật, của Pháp. Nương nơi nguyện lực, ta sẽ được đản sanh ra từ trong một hoa sen ngàn cánh. Chim ca-lăng-tầng-già hót cho ta nghe Pháp âm vi diệu. Ở cõi này, hương thơm ngào ngạt, châu báu rạng ngời, nước tịnh có đến tám đặc tính nhiệm mầu có thể chữa lành bệnh tật ngay tức khắc. Chúng sinh ở cõi này được diện kiến Đức A Di Đà và nghe Ngài thuyết Pháp, nhờ đó mà đạt được giác ngộ viên mãn. Ngoài ra, phải quán tưởng Đức A Di Đà thật linh động, rõ ràng từng chi tiết một, thân ngời sắc màu hồng ngọc (ruby) ra sao, y áo ra sao, hào quang rực sáng ra sao, v.v.
Việc dụng công quán tưởng cõi Cực Lạc là một chuyện đòi hỏi rất nhiều cố gắng. Ngay cả nếu thầy bảo các con hãy ngồi xuống quán tưởng chỉ một con mắt của Đức A Di Đà cho ra một con mắt thôi thì cũng là chuyện khó khăn rồi, huống chi cả một cảnh giới! Nhưng đối với kẻ sơ cơ tu thì việc dụng công quán tưởng cõi giới này là một việc cần thiết.
Riêng đối với các bậc chứng đắc thì cõi A Di Đà hay Niết Bàn Tịnh Độ chính là tự tánh vô sanh của tâm!
(II) Vun Bồi Công Đức
Kế đến, nếu muốn vun bồi công đức thì các con cần phải thực hành Thất Chi Hành hay Bảy Pháp Hành Trì (Thất Chi Hành hay Bảy Pháp Hành Trì là tổng hợp bảy pháp môn phổ thông được coi là căn bản và cần thiết cho con đường tu để đối trị với các tâm ô nhiễm. Trong bài giảng này, Thất Chi Hành được giảng dạy dựa trên nhu cầu hành trì theo pháp môn Tịnh Độ của Đức A Di Đà, chú trọng vào việc liên kết các pháp hành trì với cõi giới A Di Đà và với nguyện vãng sanh Cực Lạc).
Các con phải nghĩ rằng, khi xưa, chư Phật, chư Bồ Tát cũng đã từng vun bồi công đức qua vô lượng kiếp, tạo được vô lượng công đức, đem lại lợi lạc cho vô lượng chúng sinh. Những chúng sinh đã đắc quả Cực Lạc trong qua khứ, chắc chắn là khi còn sống trong thế giới Ta Bà, cũng đã từng vun bồi công đức qua vô lượng kiếp, tạo được vô lượng công đức, đem lại lợi lạc cho vô lượng chúng sinh. Nay nếu ta muốn đắc quả Cực Lạc thì chính bản thân ta cũng phải noi theo gương sáng của chư Phật, chư Bồ Tát, và các vị đã đắc quả trong quá khứ và vun bồi vô lượng công đức y như thế.
Thất Chi Hành hay Bảy Pháp Hành Trì gồm có:
1. Lễ lạy
2. Cúng dường
3. Sám hối
4. Hoan hỉ công đức của chư Phật và tất cả các chúng sinh khác
5. Thỉnh cầu chư Phật và chư đạo sư chuyển pháp luân
6. Thỉnh cầu chư Phật và chư đạo sư trụ thế cho đến ngày cõi luân hồi tuyệt dứt
7. Hồi hướng công đức đến tất cả chúng sinh

Bảy Pháp Hành Trì này là để đối trị với các tâm mê mờ, ô nhiễm. Lễ lạy là để đối trị tâm cao ngạo; lễ lạy giúp hành giả biết hạ mình, khiêm cung hơn. Cúng dường là để đối trị tâm bỏn sẻn, ích kỷ, tham luyến. Sám hối là để đối trị tham sân si, gốc rễ gây ra ác nghiệp. Hoan hỉ là để đối trị tâm ganh tị. Thỉnh cầu chư Phật chuyển pháp luân là để đối trị với vô minh, tâm ngu si, mê muội. Thỉnh cầu chư Phật trụ thế là để đối trị với hiểu biết sai lầm của ta về lẽ vô thường; tuy là đối với những vị đã chứng đắc thì chỉ có hiện tượng chết chứ không thật có cái chết nhưng khi nhìn thấy các Ngài ra đi, đó là khi chúng ta được nhắc nhở về luật vô thường một cách rõ ràng nhất. Hồi hướng công đức là để đối trị với tâm nghi ngại khi ta thiếu lòng tin rằng công đức là một phần rất lớn trên con đường đi đến giác ngộ; hồi hướng hết tất cả công đức trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai – là làm cho công đức trở nên rộng lớn hơn lên, không bao giờ cạn kiệt!
Trong mỗi một pháp hành trì đều bao gồm tất cả sáu ba la mật trong đó! Ví dụ khi lễ lạy…Đừng nghĩ rằng trong khi đang lễ lạy thì các con lại thiếu sót không được có cơ hội tụng kinh hay ngồi thiền. Phải nghĩ rằng tất cả đạo pháp của Đức Thế Tôn điều hiện diện đầy đủ trong từng cái lạy! Lễ lạy chính là một hình thức thiền định, không hơn, không kém. Nếu các con có thể dung hợp được tất cả Bảy Pháp Hành Trì vào trong một cái lạy, thì chỉ duy một cái lạy đó thôi mà tất cả đạo pháp và toàn thể thân khẩu ý thanh tịnh thảy đều có mặt!
Thầy đưa ra những ví dụ như sau… Khi lễ lạy, các con phát tâm hoan hỉ quán tưởng vô lượng chúng sinh cũng lễ lạy với con để hồi hướng cho họ cùng vãng sanh Cực Lạc, đó là bố thí ba la mật. Khi ngày đêm miên mật hành trì lễ lạy, thân khẩu ý thanh tịnh, lại phải chịu đựng những lao nhọc thân xác trong khi lễ lạy thì đó là tổng hợp của trì giới, nhẫn nhục và tinh tấn ba la mật. Khi lễ lạy, nếu tâm không vọng động, ngữ và ý đều thanh tịnh, lại hết sức nhất tâm chuyên chú vào động tác lễ lạy thì đó là định ba la mật. Hiểu được rằng lễ lạy là một pháp môn thâm diệu, là một trong những pháp sám hối, đối trị với tâm cao ngạo, lễ lạy mà không chấp ngã, không tự hào là ta đang làm công việc lễ lạy thì đó chính là tuệ ba la mật!
Những điều này các con phải ghi nhớ cho kỹ! Trong mỗi một pháp hành trì, nếu biết cách hành trì cho thật đúng đắn và rốt ráo thì tất cả sáu ba la mật sẽ được nuôi dưỡng và lớn mạnh trong từng pháp một.
Pháp hành trì thứ nhất – Lễ lạy:
Trong khi lễ lạy, phải quán tưởng là thân mình chia ra nhiều như vô lượng vi trần để làm động tác lễ lạy, và quán chúng sinh nhiều như vô lượng vi trần cũng đang lễ lạy cùng với mình. Trong khi đang lễ lạy trước tôn tượng hay linh ảnh của Đức Phật A Di Đà, phải một lòng ghi nhớ tâm nguyện cầu vãng sanh về cõi Cực Lac. Tâm nguyện này phải luôn luôn hiện diện trong mỗi một giây phút! Ngay cả khi sụp xuống lạy một cái lạy duy nhất thì trong chỉ một lạy đó thôi, tất cả bao nhiêu tâm nguyện cầu vãng sanh Cực Lạc cũng phải hiện hiện hết sức mãnh liệt trong cái lạy đó.
Trong khi lạy, thầm khấn rằng, nương vào công phu lễ lạy này, con xin hồi hướng công đức hết cho tất cả chúng sinh, cầu xin cho con và họ cùng được vãng sanh Cực Lạc và đắc quả Vô Thượng Bồ Đề.
Pháp hành trì thứ nhì – Cúng dường:
Có tất cả là 5 hình thức cúng dường để dâng lên Đức Phật A Di Đà và chư Bồ Tát trong thánh hội của Ngài. Một là cúng dường phẩm vật. Hai là cúng dường nương nơi tâm nguyện. Ba là cúng dường những bài tán thán hay đạo ca. Bốn là cúng dường tâm kiến thuần tịnh. Năm là cúng dường đại nguyện Phổ Hiền vĩ đại vô song.
(1) Cúng dường phẩm vật như nước tịnh, hương, hoa, trái cây, đèn bơ, nước thơm, nhã nhạc, v.v. là những phẩm vật đẹp đẽ, thuần khiết.
(2) Cúng dường nương nơi tâm nguyện là khi các con phát khởi tâm cúng dường rộng lớn trùm khắp. Các con có thể khấn nguyện rằng không những con xin cúng dường tất cả những phẩm vật đẹp đẽ thuần khiết trong tầm tay và khả năng của con, mà tất cả sông ngòi, biển cả, hoa trái, núi đồi, v.v., tất cả những gì đẹp đẽ thanh tịnh mà con được tiếp xúc hằng ngày, trong mỗi phút giây, bất cứ khi nào có cơ hội chiêm ngưỡng hay thọ hưởng, con cũng đều xin hướng tâm đến Đức A Di Đà, đến chư Phật và xin cúng dường hết thảy.
(3) Cúng dường những bài tán thán hay đạo ca, để tán thán hạnh nguyện vĩ đại của Đức A Di Đà muốn cứu độ chúng sinh.
(4) Cúng dường tâm kiến thuần tịnh là khi các con cúng dường lên Đức A Di Đà một tấm lòng trong sáng thanh tịnh, hoàn toàn bình đẳng đối với tất cả mọi chúng sinh và tất cả mọi cảnh giới. Không thấy người xấu, không thấy cảnh xấu, không thấy hiện tượng xấu, vấn đề xấu, trở ngại xấu. Đó chính là tâm kiến thuần tịnh, và do đó mà bất kỳ ở đâu, các con cũng có thể quán tưởng đó chính là cõi giới đẹp đẽ trang nghiêm của Đức A Di Đà, mọi người chung quanh con đều là những chúng sinh đản sanh ra từ hoa sen ngàn cánh, chim muôn đều biến thành chim ca-lăng-tầng-già, âm thanh con nghe thấy cũng đều biến thành pháp âm vi diệu, v.v.
(5) Cúng dường đại nguyện Phổ Hiền vĩ đại vô song là khi các con theo chân của đại hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, phát khởi một tấm lòng vị tha vô biên, thực hành tất cả những thiện hạnh với tâm không ngăn ngại, miễn sao việc đó đem lại lợi lạc cho chúng sinh.
Lẽ dĩ nhiên chư Phật hay Đức A Di Đà không có nhu cầu mà cũng không chờ đợi sự cúng dường của bất kỳ ai! Nhưng các con vẫn phải thực hành cúng dường tự đáy tim mình, với tất cả tấm lòng thành kính. Nhờ đó mà các con có thể hồi hướng phước đức và nguyện rằng, xin cho tất công đức gặt hái được qua hạnh cúng dường sẽ được hồi hướng đến cho tất cả chúng sinh, cầu xin cho con và chúng sinh cùng được vãng sanh Cực Lạc và đắc quả Vô Thượng Bồ Đề.
Pháp hành trì thứ Ba – Sám hối:
Sám hối phải đi kèm với những hiểu biết chánh đáng về (1) nguyên nhân và tác ý (tham sân si) dẫn đến ác nghiệp, (2) không gian và thời gian (vô thỉ vô chung vô lượng kiếp) mà ta đã tạo ra ác nghiệp, (3) những cánh cửa phương tiện (thân ngữ ý) dẫn ta đến việc hoàn thành ác nghiệp, và (4) bản chất và những hành vi cụ thể của ác nghiệp (sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói đâm thọc, nói lời thô bạo, nói tầm phào, tâm tham, dã tâm và tà kiến).
Ngoài ra, sám hối phải đi kèm với (1) thành tâm nhận lỗi, (2) thành tâm thú lỗi, và (3) quyết tâm không tái phạm dù dưới bất cứ hình thức nào hay với bất cứ giá nào. Không phải chỉ lễ lạy hay tụng kinh sám hối là đủ mà phải sám hối ngay trong từng tư tưởng, lời nói và hành động!
Muốn sám hối dưới sự chứng giám của Đức A Di Đà thì các con có thể hành trì như sau:
(1) Quán tưởng đối tượng chứng giám là Đức A Di Đà cùng thánh chúng trong pháp hội của Ngài
(2) Thực hành pháp sám hối trước linh ảnh hay tôn tượng của Đức A Di Đà, chẳng hạn như lạy sám hối hay tụng kinh sám hối, v.v.
(3) Thực hành các thiện hạnh để hóa giải nghiệp xấu đã tạo từ vô thỉ vô chung, chẳng hạn như bố thí cúng dường để hóa giải nghiệp trộm cắp, nói lời yêu thương từ ái để hóa giải lời thô bạo, v.v.
(4) Thành tâm tự hứa và cam kết là sẽ không bao giờ tái phạm
(5) Giữ trọn lời cam kết với bất cứ giá nào!
Trong khi thực hành các pháp môn sám hối, hãy khấn rằng, nương vào công phu sám hối này, con xinhồi hướng công đức hết cho tất cả chúng sinh, cầu xin cho con và chung sinh cùng được vãng sanh Cực Lạc và đắc quả Vô Thượng Bồ Đề.
Pháp hành trì thứ Tư – Hoan hỉ công đức của chư Phật và chúng sanh:
Chẳng những các con tán thán và hoan hỉ với công đức của Đức A Di Đà và chư Phật đã đành, mà còn phải hoan hỉ với những việc làm tốt đẹp của tất cả mọi người khác nữa. Tâm hoan hỉ và bình đẳng này cũng sẽ giúp cho con đễ phát khởi và nuôi dưỡng tâm kiến thuần tịnh. Trong Kim Cang Thừa có dạy, khi ta thành tâm hoan hỉ công đức và tán thán công đức của chư Phật, chư Bồ Tát và của các chúng sinh khác thì công đức mà ta tạo được qua hạnh hoan hỉ sẽ ngang bằng với công đức của người đã tạo.
Khi chúng sinh tạo công đức, làm các việc thiện thì những công đức này ít nhiều bị vẩn đục vì chúng sinh còn chấp ngã, còn cho rằng ta là người làm việc thiện, việc này là việc thiện, v.v. Ngay cả chúng sinh có thể tranh đua nhau làm việc thiện cũng vì chấp ngã và ganh tỵ khi người khác làm được nhiều việc thiện hơn mình cũng do chấp ngã.
Trong Tạng ngữ, ganh tỵ có nghĩ đen là một nơi chốn hẹp hòi. Công đức do chúng sinh tạo có thể cạn kiệt bất cứ lúc nào chính vì căn bệnh chấp ngã. Thay vì ganh tỵ hay chấp ngã thì hãy mở lòng hoan hỷ với công đức của người khác, đừng để cho mình bị kẹt trong cái nơi chốn hẹp hòi của tâm. Ngược lại, chư Phật, chư vị A-la-hán, chư Bồ Tát vì không còn chấp ngã nữa nên công đức do các ngài tạo hoàn toàn vị tha, hoàn toàn thuần khiết, sẽ không bao giờ cạn kiệt.
Trong khi thực hành hạnh hoan hỉ, hãy tạm nguyện rằng, nương vào hạnh hoan hỉ này, con xin hồi hướng công đức hết tất cả chúng sinh, cầu xin cho con và chúng sinh cùng được vãng sanh Cực Lạc và đắc quả Vô Thượng Bồ Đề.
Pháp hành trì thứ Năm – Thỉnh cầu chư Phật và chư đạo sư chuyển pháp luân:
Các con có thể khẩn nguyện để giáo pháp của Đức Phật tổ Thích Ca và Đức A Di Đà luôn luôn trường tồn, nguyện cho pháp môn Tịnh Độ sẽ được nhiều người biết đến và theo đó mà hành trì. Khi xưa, sau khi Đức Phật Thích Ca thành đạo, cũng nhờ do vị trời Vishnus mà Đức Thích Ca đã chuyển bánh xe Pháp và giảng dạy về giáo lý siêu việt mà chính Ngài đã chứng đắc.
Do đó, việc thỉnh cầu chư Phật và chư đạo sư chuyển pháp luân, thuyết giảng về chánh pháp hay về pháp môn Tịnh Độ sẽ đem đến lợi lạc không thể nghĩ bàn, chẳng những cho chính cá nhân các con mà con cho tất cả các chúng sinh khác. Đây là pháp hành trì vô cùng quan trọng trong Thất Chi Hành, có năng lực gia trì vô cùng rộng lớn. Khi thỉnh cầu, hãy khẩn nguyện tự đáy tim mình.
Trong khi thực hành việc thỉnh cầu, hãy tâm nguyện rằng, nương vào việc làm này, con xin hồi hướng công đức cho tất cả chúng sinh, cầu xin cho con và chúng sinh cùng được vãng sanh Cực Lạc và đắc quả Vô Thượng Bồ Đề.
Pháp hành trì thứ Sáu – Thỉnh cầu chư Phật và chư đạo sư trụ thế:
Việc Đức Phật nhập diệt là một trong mười hai sự kiện giác ngộ trong cuộc đời Đức Phật. Nhưng nếu chư Phật, chư Bồ Tát, chư đạo sư không tiếp tục trụ thế để giáo hóa chúng sinh thì con đường giác ngộ sẽ không được khai mở và chúng sinh sẽ không thể tự giải thoát ra khỏi màn đêm luân hồi.
Ngay cả các vị đại Bồ Tát đã chứng đến địa thứ chín cũng còn muốn lựa chọn để tái sinh trở lại hầu có thể đem lại lợi lạc cho chúng sinh. Nếu chư Bồ Tát, chư vị A-la-hán, hay chư đạo sư trụ thế, cho dù chỉ trong một thời gian cực kỳ ngắn ngủi thôi thì các Ngài cũng đã có thể hóa độ được vô lượng chúng sinh rồi! Đo đó, các con nên thường xuyên tụng đọc những bài nguyện trường thọ cho các Ngài, cho những bậc thầy vĩ đại, và tụng những bài nguyện đó cho cả những bậc thiện tri thức, những anh chị em, đạo hữu Kim Cang của các con!
Trong khi thực hành việc thỉnh cầu các Ngài trụ thế, hãy tâm nguyện rằng, nương vào việc làm này, con xin hồi hướng công đức hết cho tất cả chúng sinh, cầu xin cho con và chúng sinh cùng được vãng sanh Cực Lạc và đắc quả Vô Thượng Bồ Đề.
Pháp hành trì thứ Bảy – Hồi hướng công đức đến tất cả chúng sinh
Khi hồi hướng công đức, không chỉ hồi hướng công đức cho cha mẹ, gia đình, người thân, bạn bè...mà hồi hướng công đức cho cả kẻ thù, cho những kẻ đã tạo ra chướng ngại trong đời ta hay trên cong đường tu tập của ta, kể cả cho những cô hồn, vong linh ác dữ, v.v. vì nếu không có kẻ thù, hay những kẻ ganh ghét bạc đãi ta và vong linh quấy nhiễu thì ta dựa vào đâu để mà tu tập? Họ chính là những đối tượng giúp cho ta thực tập từ bi hỷ xả, thực tập nhẫn nhục, nên ta phải biết ơn họ, và hồi hướng cho họ trước tiên!
Hơn thế nữa, các con không chỉ hồi hướng công đức để cầu xin cho chúng sinh được hưởng giàu sang an lạc trong hiện tại hay trong những kiếp vị lai, cũng không cầu xin cho chúng sinh được tái sinh trong các cõi trời, không cầu xin cho họ đắc quả A-la-hán hay trở thành Bồ Tát, mà các con hồi hướng công đức để nguyện cho tất cả chúng sinh đắc quả Cực Lạc, và đạt được Phật quả trong đời này hoặc trong các đời sau! Điều quan trọng cần ghi nhớ là phải phát được đại nguyện cao cả nhất trong tất cả các nguyện, đó là nguyện cho ‘đệ tử cùng tất cả chúng sinh đồng trọn thành Phật đạo’, đắc quả Vô Thượng Bồ Đề.
Như thầy đã nói ở trên, hồi hướng công đức cho tất cả pháp giới chúng sinh là một trong những pháp hành trì cao sâu và nhiệm mầu trong việc vun bồi công đức. Đó là con đường của Bồ Tát. Lẽ dĩ nhiên, việc hồi hướng công đức sẽ rất cao sâu và nhiệm mầu nếu các con không nghĩ rằng chính ta đang là người làm công việc hồi hướng công đức cho tất cả chúng sinh! Cứ an nhiên, thành tâm hồi hướng. Nhưng phải làm sao để không nhìn thấy mình trong đó. Đừng để cái ta hiện ra quá rõ, quá to trong ta!
(III) Phát khởi Bồ Đề Tâm
Không có một pháp tu nào có thể dẫn các con đến đạo quả giác ngộ nếu thiếu Bồ Đề Tâm! Bồ Đề Tâm gồm có hai khía cạnh. Khía cạnh thứ nhất là tâm từ bi và ước nguyệngiải thoát chúng sinh ra khỏi biển khổ luân hồi; như đã nói ở trên, chúng sinh và các con đồng thành Phật đạo! Khía cạnh thứ nhì là trí tuệvà phương tiện thiện xảo.
Càng tu cao, càng đi sâu vào các pháp tu tối mật thượng thừa thì Bồ Đề Tâm lại càng phải sâu dày, không gì lay chuyển nổi! Đừng tưởng rằng tu thiền Dzogchen thì không cần Bồ Đề Tâm! Không có Bồ Đề Tâm thì các pháp tu đều sẽ đi đến chỗ bế tắc. Có Bồ Đề Tâm thì các pháp tu để sẽ trở nên vô cùng mạnh mẽ, và tất cả những pháp tu khác của các con cũng tự nhiên sẽ được hỗ trợ và có được uy lực vô biên.
Bồ Đề Tâm tương đối là khi các con nguyện phát khởi và nuôi dưỡng tâm từ bi nhưng vẫn còn ở trong vòng nhị nguyên đối đãi của thế gian. Bồ Đề Tâm viên mãn là khi các con đã lìa được tâm đối đãi, không còn phân biệt chủ thể đối tượng, chứng nhập tánh Không, vô sanh của vạn pháp. Cho dù chư đạt đến được Bồ Đề Tâm viên mãn thì Bồ Đề Tâm tương đối cũng vẫn là một khởi đầu tột yếu và quý báu!
Trong pháp tu Tịnh Độ A Di Đà cũng thế, các con phải luôn luôn nuôi dưỡng Bồ Đề Tâm (cho dù khởi đầu chỉ là Bồ Đề Tâm tương đối trong vòng đối đãi nhị nguyên). Hãy luôn quán tưởng chúng sinh đều đã từng là cha mẹ của mình từ vô lượng kiếp, họ cũng đều mong cầu được hạnh phúc, được thoát khổ như mình. Ngay cả những kẻ đã ganh tỵ với các con, gây khó chịu cho các con, hay hãm hại các con, hay tệ mạt với các con, nếu các con lại cầu cho họ một điều gì đó khác với điều các con đang cầu cho chính mình, là nguyện vãng sanh Cực Lạc và đắc quả Vô Thượng Bồ Đề, thì kể như là các con đã không làm tròn bổn phận với tất cả chúng sinh cha mẹ nhiều đời của mình rồi.
(IV) Phát nguyện vãng sanh Tịnh Độ
Toàn bài giảng vừa qua, cho dù thầy nói rất nhiều và rất chi tiết về việc vun bồi công đức qua Thất Chi Hành hay Bảy Pháp Hành Trì nhưng tựu chung, trong việc miên mật hành trì các pháp môn cần thiết để vun bồi công đức này, các con đang xây đắp cho ước nguyện vãng sanh Tịnh Độ được thêm vạn phần vững chắc!
Như thầy đã nói lúc đầu, ngay cả trong một cái lạy hay trong một câu trì chú, ước nguyện vãng sanh Tịnh Độ phải hiện diện hoàn toàn trọn vẹn, mãnh liệt trong đó. Thân, khẩu, ý đều phải sáng bừng lên ước nguyện này!
Có thể lúc đầu, tuy là đã có ít nhiều tín tâm nhưng đôi khi các con cũng bị dao động hoặc sanh tâm nghi hoặc về cõi giới Tịnh Độ. Nhưng điều này cũng không có gì đáng lo ngại cho lắm. Nếu các con cứ tiếp tục tinh tấn, miên mật trì tụng mật chú A Di Đà, hoặc quán tưởng cõi giới Cực Lạc và quán tưởng A Di Đà, hoặc hành trì Bảy Pháp Hành Trì, v.v. bất kể lúc nào, bất kể ngày đêm (không nhất thiết phải là trong một thời công phu) thì dần dà, tâm nghi hoặc sẽ phai nhạt dần đi, và dần dà, tâm các con sẽ trở nên vô cùng vững chãi, dòng tâm thức A Di Đà của các con sẽ chan hòa, chẳng còn gì phải nghi ngại nữa!
Nếu ngày đêm chuyên chú hướng tâm, thực hành miên mật và phát nguyện vãng sanh Tịnh Độ thì đến giờ phút lâm chung, các con có thể hướng tâm đến cõi Tịnh Độ một cách hết sức tự nhiên, nhanh chóng, dễ dàng, và nương vào ân phúc và nguyện lực của Đức A Di Đà mà các con sẽ được Ngài tiếp dẫn để tái sinh vào Niết Bàn Tịnh Độ!
Trích: Gọi Thầy Từ Chốn Ngàn Xa và Sơ Lược Pháp Môn Vãng Sanh Tịnh Độ Theo Truyền Thống Kim Cang Thừa
Thuyết giảng: Đại Sư Tulku Nyima Riponche
  Việt dịch: Tâm Bảo Đàn

Ánh Sáng Mật Tông


Bát đại Hộ pháp của Phật giáo Tây Tạng



Một điều khó hiểu của Phật giáo đó là sự xuất hiện của các dạng hình tướng phẫn nộ, khủng khiếp...Có thể nói đó là những hình tướng xấu xí, ghê rợn đến sởn tóc gáy, và những hình tướng phẫn nộ này dường như đi ngược lại với tinh thần Phật Giáo.

Những hình tướng này không hề là biểu tượng cho cái ác hay là tượng trưng cho một ma lực nào đó...Mà thay vào đó chính là tượng trưng cho sự dũng mãnh của thực tại căn bản của vũ trụ nói chung, và tượng trưng cho tâm thức của con người  nói riêng.

Ngoài ra đó còn là sự tiêu diệt những mê muội hư vọng của tâm thức con người, và mục đích của các vị còn là sự bảo hộ cho lòng tín, đức tin. Những hộ thần phẫn nộ là những tượng trưng cho sự chế ngự dục vọng, đánh bại những điều xấu xa.



Những hộ thần thường có thân hình chắc nịch, ngắn nhưng dày... nhiều vị còn có nhiều đầu nhiều tay. Màu sắc của khuôn mặt các ngài thường đựơc hay so sánh với màu mây, màu đá quý...Đó là lý do tại sao trong các sadhanas hay có những đoạn so sánh một vị hộ thần màu đen như đám mây xuất hiện cuối trời, hay là xanh như màu ngọc lục bảo, hoặc trắng như một ngọn núi pha lê, màu vàng như vàng ròng, hoặc màu đỏ như là những tia nắng nơi ngọn núi san hô đỏ...Trong các sadhanas cũng có nói rằng các ngài phủ đầy người một lớp tro của các buổi lễ trộn với dầu mè hoặc là phủ khắp người những vết mỡ, những đốm máu và mỡ người.

Khuôn mặt của các ngài thường có những biểu hiện như sau : miệng mở một cười giận dữ, từ đó ló ra những chiếc răng nanh - người ta hay nói những chiếc nanh đó được làm bằng đồng hoặc sắt. Những con mắt đỏ ngầu đầy máu biểu lộ cho sự phẫn nộ. Thường thì các ngài có 3 mắt.

Điều quan trọng nhất trong nhóm các hộ thần đó chính là nhóm 8 vị, được biết đến như là các hộ pháp chính của Phật giáo Tây Tạng ( Bát Đại Hộ Pháp ), các hộ pháp này được xem như những vị bồ tát, và các ngài có nhiệm vụ chiến đấu một cách không khoan nhượng với bất kì thế lực ma quỷ nào cũng như những kẻ thù của Phật giáo .

Họ bao gồm :
* Yama ( Dạ Ma )
* Mahakala ( Đại Hắc Thiên )
* Yamantaka ( Hàng Phục Dạ Ma )
* Kubera ( Tài Bảo Thiên Vương )
* Hayagriva ( Mã Đầu Minh Vương )
* Palden Lhamo
* Tshangs pa ( Phạm Thiên Trắng )
* Begtse



Yama: ( Dạ Ma ) Thần chết
 
Yama and Chamundi
Dựa trên những truyền thuyết về nguồn gốc của Yama, một người đàn ông được một vị thánh cho biết rằng nếu ông ta nhập định 50 năm ở trong 1 hang động, ông ta có thể đạt được giác ngộ.

Thời gian cứ thế trôi đi, đúng vào đêm ngày thứ 29 của tháng thứ 11 của năm thứ 49. Hai tên trộm đã chạy trốn vào hang động của ông. Trong tay bọn chúng là cái đầu của con trâu mà bọn chúng giết trộm.  Sau đó chúng mới phát hiện ra rằng người đàn ông đã biết được việc làm mờ ám của bọn chúng, bọn chúng quyết định giết ông để bịt đầu mối.

Ông ta van xin bọn chúng tha mạng cho ông, bởi vì chỉ còn vài phút nữa là ông có thể đạt tới giác ngộ. Nếu bị giết chết trước thời hạn 50 năm thì mọi công sức của ông bị đổ sông đổ bể.Bọn cướp phớt lờ trước lời van xin của ông ta, và cắt đứt đầu của ông ta.

Ngay lúc đó, ông ta lập tức biến thành yama và đội cái đầu trâu vào cái xác ko đầu của mình. Yama giết chết hai tên cướp và uống cạn máu của chúng bởi cái chén được làm bằng sọ của bọn chúng.Trong cơn điên cuồng báo thù, Yama đe doạ tiêu diệt hết tất cả dân Tây Tạng.

Người dân Tây Tạng nguyện cầu đức Văn Thù Sư Lợi , xin ngài bảo vệ dân chúng trước cuộc báo thù của Yama. Văn Thù Sư Lợi liền vận dụng thần thông hoá thân thành Yamantaka ( Hàng phục dạ ma ), ngài đánh bại Yama,để cứu giúp dân chúng, đồng thời ngài khiến Yama trở thành một trong những hộ pháp của Phật giáo.



Đức Văn Thù Sư Lợi

Chúng ta thường thấy Yama hay xuất hiện trong thangka với một phối ngẫu của mình, Chamundi, là người dâng cho Yama một chén tiên dược máu quỷ ( cam lồ máu ). Và những xác người chết như là thứ trang sức của Yama. Yama có màu xanh đen của đầu con trâu.



Vương miện của Yama



Mahakala : Đại Hắc Thiên

Huyền thoại về lịch sử của Mahakala được viết bởi Khedrup Khyungpopa, là người sáng lập dòng truyền thừa Shangpa Kagyu, vào thế kỉ thứ 11. Ngài dạy rằng sức mạnh đặc biệt cũng như năng lực kì diệu của Mahakala là do nguyện lực của đức Avalokiteshvara ( Quan Thế Âm ). Ngài nguyện còn sinh tử và quyết không thành Phật nếu còn chúng sanh chưa được giác ngộ. Sau khi giúp hàng trăm ngàn người, trong vô số đời đạt tới giác ngộ . Ngài thấy rằng sự đau khổ không hề giảm sút mà hơn thế nữa sự ô nhiễm trong tâm thức chúng sanh ngày một tăng trưởng. Ngài thấy thất vọng, nhụt chí. Lúc đó lập tức đầu ngài vỡ tan thành trăm ngàn mảnh vụn.

Phật A Di Đà ( Amitabha) một trong 5 vị Phật ( Tỳ Lô Giá Na Phật, Bảo Sanh Phật, Khai Phu Hoa Vương Phật , A Di Đà Phật, Thiên Cổ Lôi Âm Phật-nd ) ghép những mảnh vỡ lại, và biến thành 11 đầu. Sau đó ngài dặn dò đức Avalokiteshvara hãy thực hiện lại lời nguyện đó một lần nữa, nhưng giữ lời nguyện đó tốt hơn, kiên cố hơn. Do đó Avalokiteshvara có mười một đầu, và trong đó có mười đầu là hiền hoà và một đầu là phẫn nộ. Đầu phẫn nộ đó chính là đại diện cho Mahakala.


Ngài Avalokiteshvara

Ngài Avalokiteshvara buồn bã, trong khoảng thời gian 7 ngày. Ngài nghĩ rằng trên thế giới đầy những chúng sanh đau khổ cần một kết quả thật nhanh chóng mà không phải có quá nhiều nỗ lực. Sau đó ngài muốn biến mình thành một bổn tôn phẫn nộ để đánh bại nhanh chóng và hiệu quả hơn những trở ngại cho hạnh phúc của người khác. Với tư tưởng này chữ HUM màu xanh đậm xuất hiện từ trái tim ngài. Chủng tự Hum đó đã trở thành Mahakala. Điều đó có nghĩa rằng trong câu thần chú 'Om Mani Padme Hum', chủng tự Hum tượng trưng cho sức mạnh, quyền năng.


Chủng tự Hum của Tây Tạng


Thần chú Om Mani Padme Hum


Sự xuất hiện  của Mahakala kéo theo sự rung động của mặt đất, đồng thời có giọng nói của chư Phật vang vọng trong không trung chứng minh rằng Mahakala có đủ quyền năng làm ban phát những gì chúng sinh mong muốn nếu những mong muốn đó là trung thực và tốt.

Mahakala là một hộ thần giám hộ cho người thống trị Mông Cổ- Thành Cát Tư Hãn- lúc bấy giờ. Sự phẫn nộ của Mahakala được xem  giống như hoá thân phẫn nộ của thần Siva. Ở Tây Tạng, về hình ảnh của Mahakala thường có một đầu và ba mắt, lông mày như những ngọn lửa nhỏ và râu thì có dạng như hình móc câu. Mahakala có từ 2 đến 6 tay.



Thangka Painting of Mahakala
Điều tự nhiên cơ bản mà dân Tây Tạng thường thờ cúng Mahakala có lẽ là vì ngài là vị thần của lều trại. Bởi vì dân Tây Tạng sống du mục, do vậy thời gian ở lâu mau là phụ thuộc vào thiên nhiên và môi trường xung quanh, do vậy họ dùng lều trại, việc di chuyển và định cư tạm thời là một phần quan trọng của cuộc đời họ.

Ngoài ra ngài còn là một Hộ Pháp rất quan trọng, bởi thế cho nên ở mỗi tu viện đều có một nơi thờ Mahakala.

Yamantaka ( Hàng Phục Dạ Ma )

Yamantaka - Nepalese Sculpture
Yamantaka, là một hoá thân phẫn nộ của Văn Thù Sư Lợi ( Bồ Tát của trí tuệ ), Yamantaka là hoá thân phức tạp và phẫn nộ khủng khiếp nhất trong tất cả các hoá thân phẫn nộ của Phật giáo. Ở hoá thân này , Văn Thù Sư Lợi đã hàng phục được thần chết Yama, khi mà Yama đang trong cơn khát máu điên cuồng trả thù giết hại dân Tây Tạng .

Theo truyền thuyết, trong đại định, Văn Thù Sư Lợi đi khắp tất các nơi trong địa ngục để tìm kiếm Yama. Cuối cùng ngài đã tìm ra được nơi trú ngụ của Yama và các thuộc hạ của mình đó là một thành phố sắt ở địa ngục. ( Yama lúc này mang hình dáng thân người đầu trâu nước ).

Để điều phục Yama, Văn Thù Sư Lợi sử dụng hình dạng như vậy, nhưng thêm vào đó tám đầu và nhân lên nhiều tay, mỗi cánh tay đều cầm những thứ vũ khí đáng sợ. Và hơn thế nữa từ trong thân ngài mọc ra thêm một số lượng chân tương ứng, xung quanh ngài là một số lượng lớn những chúng sanh đang kinh hãi. Để đối đầu với cái chết, ngài hiện thân như chính bản thân của thần chết được nhân lên nhiều lần. Thần chết Yama thấy được bản thân nhưng sự khủng khiếp lại gấp nhiều nhiều lần. Lúc này thần chết Yama gặp phải tình cảnh đúng nghĩa là "sợ muốn chết".

Đó là lý do tại sao các nhà yogi khi thực hành pháp yamantaka , thông qua hình tượng yamantaka họ sẽ phát tiển được định lực đủ mạnh để đối diện với cái chết, cũng như các sự sợ hãi về cái chết. Mỗi đầu, mỗi cánh tay, mỗi bàn chân cho đến từng thái độ, từng món trang sức, tất cả biểu tượng đó của Yamantaka đều là những mảng giác ngộ tối cần thiết cho việc đối diện với cái chết.


Cả Yama và Yamantaka đều mang hình tướng là đầu trâu nhưng Yama thì luôn có một món trang sức hình bánh xe ở trên ngực, đây là dấu hiệu đặc trưng để phân biệt hai vị hộ pháp này.


Kubera (Vaisravana) ( Tài Bảo Thiên Vương )



Theo thần thoại Hindu, Kubera là con trai của một nhà hiền triết gọi là "Visravas", vì vậy ngài được đặt theo tên cha mình là "Vairavana".  Truyền thuyết nói rằng do sự tu tập nghiêm chỉnh, sự mộc mạc, chân thật của mình trong hàng ngàn năm. Brahma ( Phạm Thiên ), đấng sáo tạo trong thần thoại của Hindu, đã ban cho ngài sự bất tử và biến ngài thành vị thần của tài bảo. Ngài là vị thần bảo hộ cho tất cả các kho tàng của trái đất. Ngài sẽ ban phát kho tàng này cho những ai xứng đáng.

Nơi ở của Kubera là ngọn núi Kailash ( một đỉnh núi linh thiêng, mà người dân Tây Tạng rất hay hành hương tới, tương truyền ai tới được ngọn núi linh thiêng này thì dường như đã tịnh hoá được rất nhiều nghiệp lực, cũng như đã tiến một bước rất dài trong con đường tu tập - người dịch ). Nhưng khi được Brahma bổ nhiệm làm Thần Tài Bảo, thì Brahma cho ngài vùng Lanka ( Ceylon) làm thủ phủ của ngài.

Cũng dựa theo truyền thuyết, ngài cũng được Brahma tặng cho chiếc xe pushpaka, là chiếc xe khổng lồ và di chuyển theo ý nghĩ của chủ nhân với một tốc độ khủng khiếp

Kubera cũng được thờ cúng bởi các Phật tử, ông được xem như là một vị bảo hộ của phương Bắc ( trong một số tài liệu còn nói Kubera chính là Tỳ Sa Môn Thiên Vương, người trấn giữ ở phương Bắc, chủ về tài bảo-nd ). Biểu tượng đặc trưng của ông chính là con chồn. Con chồn đặc biệt này luôn nhả ra châu báu.



Theo Phật giáo , ngài còn được gọi là Jambhala. Ngài luôn xuất hiện dưới hình tướng to béo và được bao phủ bởi châu báu. Chân phải của ngài lúc nào cũng đạp lên một cái vỏ ốc nằm trên một bông sen ( vỏ ốc này tượng trưng cho tốc độ khủng khiếp của ngài ).


Hayagriva : Mã Đầu Minh Vương

Mã đầu minh vương đại phẫn nộ

Hayagriva được thờ cúng ở Tây Tạng một cách chính yếu bởi những người buôn ngựa bởi vì người ta tin rằng Hayagriva doạ và đuổi ma quỷ đi bởi tiếng ngựa hí vang trời. Khi người ta thỉnh, ngài sẽ báo hiệu việc giáng lâm của ngài bằng tiếng hí, đó là lý do có cái đầu ngựa trên đảnh đầu, một dấu hiệu đặc trưng của Hayagriva. 

Âm thanh vang ra từ đầu ngựa, theo như truyền thuyết là có khả năng xuyên thủng màn vô minh, đem lại ánh sáng chân thật của tự do. Thần chú của ngài có chứa những câu thơ như sau.

"Nguyện cầu ngài bảo vệ đàn ngựa
Tăng thêm số lượng ngựa cái
Từ những con ngựa này sẽ sinh thêm nhiều chú ngựa con siêu phàm
Xin ngài hãy dẹp hết những chướng ngại trên đường
và hướng cho chúng con đi đúng hướng"

( do lối sống du mục của người Tây Tạng, nên ngựa là một thứ quan trọng ko thể thiếu trong sinh hoạt thường nhật của họ-nd)
Hayagriva là một hoá thân phẫn nộ của đức Avalokiteshvara ( Quan Thế Âm ), theo những khảo cứu thì có tới 108 hình tướng của Hayagriva. Năng lực đặc biệt của ngài là chữa bệnh, nhất là các bệnh về da, thậm chí cả những bệnh về da khá trầm trọng như là bệnh phong. Bệnh này được tin rằng do Naga gây ra ( Naga là loài rồng nhưng có hình tướng giống như rắn, rất thích sống ở khu vực sông nước, ao hồ, biển cả... nd)

Hình tướng đơn giản nhất của ngài thì có một mặt, hai tay và hai chân. Tất cả mọi thứ về ngài đó là khuôn mặt đáng sợ với ba con mắt, cái miệng đang gầm rống đầy những răng nanh, tư thế đứng của một chiến binh, chiếc bụng to lớn ẩn chứa một nội lực phi phàm trong đó. Tay phải ngài vung thanh kiếm để đe doạ đối phương, tay trái giơ lên phụ trợ trong một tư thế đáng sợ, đồ trang sức của ngài đó là những con rắn.



Hayagriva với hình tướng đơn giản

Nét đẹp của ngài lại là những điều đáng sợ nêu ở trên, bởi vì chính cái khía cạnh đáng sợ đó lại là biểu lộ của sự từ bi, chính cái đáng sợ đó giúp ta buông bỏ được bản ngã, và xuyên thủng được màn vô minh....


Palden Lhamo : Vị nữ thần

Palden Lhamo là vị nữ hộ pháp duy nhất trong nhóm 8 hộ pháp lớn của Phật giáo. Ngài là nữ hộ pháp bảo vệ cho chánh pháp ở khắp mọi nơi, bao gồm cả đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà nước Tây Tạng, thủ phủ Lhasa. Đồng thời ngài cũng là nữ hộ pháp cho đất nước Trung Quốc từ triều đại nhà Yuan (Nguyên - thế kỉ 13) cho tới những ngày cuối cùng của triều đại nhà Qing ( Thanh ) đầu thế kỉ 20.

Ở Ấn Độ, Palden Lhamo còn được gọi là Shri Devi. Ngài còn là là nữ thần Okkin Tungri ở miền Bắc Mông Cổ. Ngài cũng được xem như là một hoá thân phẫn nộ của Saraswati ( Biện Tài Thiên-nd ) vị nữ thần của sự học tập, của sự biện tài ( ăn nói ), và của âm nhạc. Một hoá thân khác của ngài là Chamudi, phối ngẫu của Yama. Lại cũng có thuyết nói ngài là phối ngãu của Mahakala.

Là nữ hộ pháp duy nhất trong việc bảo vệ chánh pháp, thế nên tương truyền rằng những thứ vũ khí của ngài vốn là được các thần khác trao tặng. Hevajra tặng cho ngài hai hạt xúc xắc để định đoạt sinh mạng của con người, Brahma tặng ngài chiếc quạt làm bằng lông công, từ Vishnu ngài được tặng hai chiếc đèn sáng rực ( giống như hai viên ngọc toả hào quang-nd ). Một chiếc thì được ngài cài trên đỉnh đầu, chiếc còn lại được ngài đeo vào ngang eo. Kubera, Thần Tài Bảo, đã cho ngài một con sư tử ( trang sức hình sư tử-nd ) và được ngài đeo ở tai phải. Nanda, Thần rắn, đã ban cho ngài một con rắn ( trang sức hình con rắn-nd ) và được đeo ở tai trái của ngài. Từ Vajrapani ( Kim Cang Thủ ) ngài nhận một chiếc búa sấm sét. Những vị thần khác ban tặng ngài một con la, được bao bọc bởi bộ da của quỷ Dạ Xoa, và có những con rắn độc quấn quanh bụng. Người ta hay thấy ngài cưỡi con la này đi du hành khắp muôn phương.





Tôn tượng của Palden Lhamo

Ngoài ra còn có một truyền thuyết nói rõ hơn về sự từ bi của ngài. Tương truyền là ngài đính hôn với một vị vua tên là Shenji, người vừa là một vị vua khát máu vừa là một chiến binh bạo tàn, ông ta từ chối hết những lời yêu cầu của Palden Lhamo khẩn cầu ông dừng giết hại dân chúng vô tội. Cuối cùng ngài đành đưa ra một tối hậu thư : Nếu ko dừng giết hại, bà sẽ giết những đứa con của mình có với nhà vua, để cho ông có thể trải nghiệm về nỗi đau người thân bị giết hại mà ông ta gây ra cho những người khác.

Shenji vẫn không dừng, thế là ngài thực hiện lời đe doạ của mình. Trước cái chết của con trai mình, ông ta đã buộc phải dừng lại.

Ngài hay được thấy mang theo xác của con trai mình trên lưng con la đi khắp nơi. Đây là biểu tượng cho quyết tâm không dừng lại trước bất cứ điều gì để đem lại sự an bình cho tất cả.

Tshangs Pa or ‘White Brahma’ ( Phạm Thiên Trắng )

Brahma (Phạm Thiên) , là một vị thần quan trọng nhất đối với đạo Hindu, tuy nhiên đối với Phật giáo thì Phạm Thiên chỉ chiếm một ví trí thứ yếu. Tên tiếng Tây Tạng của Brahma là Tshangs Pa, chúng ta thường biết đến Brahma với hình tượng 4 đầu 2 tay. Nhưng trong Phật giáo Tây Tạng ngài luôn được biểu hiện với màu trắng, 1 đầu 2 tay và được gọi là "Tshangs pa dkar po". Có nghĩa là Tshangs Pa Trắng.




Hình tượng Brahma trong Hindu giáo

Cũng theo như các sadhana, đây cũng là hình tượng của Brahma. Người ta thường thấy ngài ngồi trên lưng con ngựa trắng, giơ cao thanh gươm, đôi lúc có đeo lá cờ sau lưng. Ngài là một vị thần của chiến binh, nhưng không hiện thân quá khủng khiếp và man rợ. Đằng sau chiếc vương miện ngài là chiếc khăn mỏng có chứa cái vỏ ốc ( một trong những biểu tượng cát tường thường thấy của Tây Tạng-nd ). Ngài mặc những bộ quần áo dài tay và "bồng bềnh như mây".

Mặc dù các truyền thuyết đằng sau nguồn gốc của ngài, không có gì không khế hợp với Brahma, song chúng ta có một truyền thuyết khá thú vị:

Ngày xưa khi ngài ra đời, và được đặt tên là Tshangpa karpo. Ngài lớn lên với đầy đủ sự hùng mạnh, ngài thường dạo khắp nơi trong vũ trụ trên lưng một con ngựa vàng.Vào ban ngày thì ngài dạo chơi trên bầu trời, tới ban đêm thì mới đáp xuống. Vào một ngày nọ, ngài đến các cung trời. Sau đó ngài lừa được một nữ thần ( có thể là thiên nữ-nd) tên là Dhersang, và ăn trộm được viên ngọc như ý của thần. Xui xẻo thay, ngài không thể trốn thoát kịp vì bị một vị thần bảo hộ của cung trời này dùng chiếc lưỡi của mình tóm lấy ngài và ném ngài trở về lại mặt đất, lấy lại viên ngọc như ý đó từ tay ngài, cũng đồng thời lấy luôn trái tim của ngài.Hơn thế nữa ngài bị ép phải hứa hôn với nữ thần Dhersang.


Tsangpa Pa


Thất vọng vì sự bại trận của mình, ngài lại tiếp tục cuộc hành trình của mình trong vũ trụ. Ngài bắt đầu giết tất cả những người thanh niên ở những nơi ngài đi qua, và cưỡng bức những cô gái mà ngài gặp. Một ngày nọ ngài gặp nữ thần Ekajati. Với ý định quấy rầy nữ thần, ngài bắt đầu buông lời ong bướm. Nữ thần Ekajati nổi giận và dùng chiếc khăn tơ lụa của mình đang choàng trên người để đánh ngài.




Ekajati - Bà mẹ khủng khiếp


Bị đánh vào đùi, chân ngài lập tức gãy lìa. Cái đánh của nữ thần ngay lập tức khiến cho ngài giác ngộ và trở thành một trong những hộ pháp của Phật giáo. Cái đánh này không có ý nghĩa là hành hung trên một khía cạnh vật chất. Nó chính là sự tấn công vào các phần tiêu cực, các khía cạnh đen tối của tâm thức và chuyển hoá nó. Bởi vì sức mạnh, năng lực vô biên của ngài được chuyển hướng vào việc bảo hộ và cúng dường cho chân lý, đã khiến ngài trở thành một trong những vị đại hộ pháp của Phật giáo. Trong lịch sử, đây cũng chính là hình ảnh đại diện cho sự hội nhập của tôn giáo cổ của Tây Tạng ( đạo Bon ) vào đạo Phật bởi đạo sư vĩ đại Padmasambhava ( Liên Hoa Sanh ).

Begtse: Thần Chiến Tranh



Người chiến binh man rợ này, vốn là một dạ xoa, là vị thần của chiến tranh ở vùng Trung Á, mặc áo giáp và trang phục của quân Mông Cổ, xuất hiện trong Phật Giáo Tây Tạng vào nửa cuối thế kỉ 16, là hộ pháp cuối cùng gia nhập vào nhóm 8 vị hộ pháp.



Yaksha - Dạ Xoa

Theo truyền thuyết,Begtse, người lãnh đạo của một đội quân động vật,xuất hiện khi Dalai Lama, được mời từ Tây Tạng tới Mông Cổ do vua của Mông Cổ lúc bấy giờ là Atlan Khan ( con cháu của Thành Cát Tư Hãn-nd) để chuyển dổi Phật giáo thành quốc giáo của Mông Cổ.

Biết được việc này nên đức Dalai Lama liền hoá thành Quan Âm Tứ Thủ Avalokiteshvara, vị Bồ Tát của lòng từ bi, hai tay của ngài chắp trước ngực tạo thành ấn nguyện cầu. Bước chân của con ngựa ngài cỡi, in lên trên cát không phải là dấu chân mà lạ thay lại là câu thần chú Om Mani Padme Hum.Tận mắt chứng kiến phép màu này, Begtse liền tin tưởng ngay vào tính ưu việt, sự vượt trội của Phật giáo và tự động quy phục, và chuyển sang Phật giáo. Người ta nói sự quy phục của Begtse chính là hình tượng cho việc chuyển đổi quốc giáo của Mông Cổ thành Phật giáo.



Chân dung của Begtse


Ngài là xuất hiện với đầy đủ các thứ phục trang như các hộ pháp khác, giơ cao một thanh gươm ( cán gươm có hình con bò cạp ) trong tay phải. Tay trái thì nắm một chiếc đầu của kẻ thù màu cam, ta còn có thể thấy ngài giương cung tên cùng lúc đó. Ngài đạp lên xác chết của người đàn ông bằng chân trái, chân còn lại thì ngài dẫm lên cái xác chết của con ngựa. Ba con mắt của ngài đầy sự phẫn nộ,nhìn trừng trừng đủ để đe doạ những kẻ phá hoại chánh pháp.

*

Đôi lời tự sự : Cuối cùng Thiện Duyên đã hoàn tất được bài viết về Bát Đại Hộ Pháp. Thật sự nhân duyên khiến Thiện Duyên gắng sức, chính là muốn góp một phần sức nho nhỏ của mình cho mọi hành giả Phật giáo và nhất là những hành giả của Kim Cang Thừa biết rõ hơn về chư vị hộ pháp. Cũng xem đây như là một món cúng dường của Thiện Duyên và các bạn đồng học đếnTam Bảo, đến dòng truyền thừa,chư tổ, đến đức bổn sư HH18th Dromtug Rinpoche Losang Choekye Pelden và bổn sư HH Gyalwang Drukpa XII của mình...

Xin nguyện chư vị hộ pháp thường hằng hộ niệm tất cả chúng sinh cho tới tận rốt ráo viên thành quả vị.
Do cũng có lấy nguồn tài liệu từ nước ngoài, mà khả năng dịch thuật lại còn có giới hạncho nên nếu có sai sót gì xin mọi người niệm tình bỏ qua.

Mọi sai sót nếu có đều là do người dịch, mọi công đức nguyện hồi hướng tới tất cả chúng sanh.


Hình Phật (Tây Tạng) đẹp