Cậu sinh viên nghèo và bát cơm trắng từ chủ quán ăn

Cách đây 20 năm tại Đài Bắc, một sinh viên trẻ đi đến một nhà hàng tiệc đứng Trung Hoa. Cậu đi tới đi lui cho đến khi những thực khách cuối cùng về hết. Lúc đó cậu mới rụt rè đến gặp người chủ nhà hàng và nói rằng: “Cô chú có thể cho cháu xin một bát cơm trắng được không?”



Ông chủ và vợ ông ta có một chút bối rối vì chàng trai này không đặt món ăn nào cả. Nhưng sau một thoáng suy nghĩ, họ vẫn vui vẻ mang lên một bát cơm đầy, tuy nhiên, chàng trai lại ngập ngừng hỏi tiếp:

“Cô chú có thể cho cháu thêm một chút nước sốt hoặc nước súp lên cơm được không?” Người vợ mỉm cười đáp: “Không vấn đề gì, cậu cứ dùng miễn phí.”

Sau khi chàng trai trẻ ăn được khoảng nửa bát cơm, anh chợt nghĩ, hay mình xin thêm một bát nữa. Bà chủ nhà hàng thấy thái độ của cậu, lại nhiệt tình bảo rằng: “Một bát cơm thì không đủ đúng không nào, để tôi cho cậu thêm chút nữa nhé”. Chàng trai trả lời: “Không ạ, cháu muốn để dành để mai mang lên trường ăn ạ”

Ông chủ nhà hàng nghe vậy bèn nghĩ rằng cậu thanh niên này có lẽ xuất thân từ một gia đình nghèo khó và đang rất cố gắng để hoàn thành việc học ở trường, vì vậy ông đã cho thêm thịt lợn băm và trứng kho vào bát cho cậu, nhưng để cơm trắng úp lên trên.


Bà vợ thấy vậy bèn hỏi: “Giúp được người khác là điều rất tốt, nhưng tại sao anh lại phải giấu như thế?”. Người chồng trả lời: “Nếu cậu ấy nhìn thấy, sẽ nghĩ rằng chúng ta đang thương hại cậu và điều đó có thể làm cậu ta tổn thương. Nhưng cậu ấy cũng không thể học tốt được nếu chỉ ăn cơm trắng qua ngày.”

Người vợ rất ủng hộ thiện ý của chồng, bà nói: “Anh thực sự là một người đàn ông tốt”. Ông cười rồi nhìn bà và nói: “Dĩ nhiên rồi, chẳng phải đấy là lí do vì sao em chọn anh sao?”.
Chàng trai trẻ đã ăn cơm xong và mang phần cơm của bữa trưa mai đi. Anh ta cảm thấy hộp cơm dường như nặng hơn mọi khi, anh quay đầu lại nhìn cặp vợ chồng chủ nhà hàng mà rơm rớm nước mắt.

Từ sau đó, trừ những ngày lễ ra, ngày nào chàng trai này cũng đều đến để được có cơm trắng ăn qua ngày. Và người chủ nhà hàng thì luôn luôn cho thêm thức ăn để dưới đáy hộp để cậu mang theo cho ngày hôm sau.

Việc này cứ thế tiếp diễn cho đến khi chàng trai năm ấy tốt nghiệp đại học. Và rồi ông bà đã không còn thấy cậu trở lại nhà hàng kể từ đó.

Năm tháng trôi qua, vợ chồng ông bà chủ của nhà hàng năm nào giờ đã qua 50 tuổi. Bỗng một ngày, họ nhận được thông báo từ chính phủ rằng nhà hàng sẽ bị dỡ đập, vì nó bị xây dựng trái phép. Họ đã khóc rất nhiều, tài sản cả đời mưu sinh đã dành cho con trai du học Mỹ, giờ ở ngưỡng trung niên, lại mất việc làm mà không còn tài sản, họ có thể làm gì được đây?

Rồi một hôm, trong nỗi buồn tuyệt vọng, một người đàn ông trẻ xuất hiện với diện mạo lịch lãm nhẹ nhàng đến nhà và nói với ông bà rằng: “Giám đốc của công ty chúng tôi muốn mời ông bà đến quản lí nhà hàng tiệc đứng tự phục vụ mới mở của chúng tôi. Tất cả mọi thứ đều đã được sắp xếp xong, những gì ông bà cần làm chỉ là quản lí và dẫn dắt nhân sự ở đó, toàn bộ lợi nhuận sẽ chia cho ông bà 50%”.

Hai vợ chồng vô cùng sửng sốt: “Ai là giám đốc của công ty các vị? Chúng tôi không quen biết bất kì ngài giám đốc của doanh nghiệp nào cả!”.

“À, vì ông bà là những người tốt bụng, chính ông bà đã cưu mang giám đốc công ty chúng tôi. Tôi không biết rõ sự việc diễn ra thế nào, nhưng lãnh đạo chúng tôi nói rằng anh rất yêu thích món thịt băm và những quả trứng kho mà ông bà nấu ngày nào.”

Nghe đến đó, hai vợ chồng già cảm thấy cay cay khóe mắt…

Cậu thanh niên trẻ ngày ấy có gia cảnh vô cùng khó khăn, mồ côi cha mẹ và sống với bà, nhà không đủ tiền cho cậu ăn học, nhưng cậu vẫn quyết tâm phải học bằng bạn bằng bè, vì cậu biết đó là con đường duy nhất giúp cậu thoát khỏi cảnh nghèo khó, tuy nhiên cả ngày đi lang thang không có thức ăn, cậu gần như không còn sức đến trường. Và rồi khi cậu gặp hai ông bà chủ nhà hàng phúc hậu và lấy hết dũng khí để hỏi xin một bát cơm trắng, và nhận được sự tốt bụng còn nhiều hơn thế, thì cứ thế, cậu đã cố gắng hết sức để tiếp tục hoàn thành việc học của mình, những lúc nản chí nhất, cậu lại nhớ đến sự rộng lượng của vợ chồng ông bà chủ và tự nhủ mình phải học tốt để sau này báo đáp công ơn của họ. Và sự quyết tâm của cậu đã được đền đáp, năm tháng trôi qua, sau khi tốt nghiệp, cậu tập trung gây dựng sự nghiệp và đã trở thành giám đốc trẻ của một công ty đi đầu về dịch vụ ăn uống, ngay khi công việc ổn định, cậu đã mở ngay một nhà hàng tiệc đứng và chuẩn bị mọi thứ để đến mời hai ông bà chủ nhà hàng năm xưa trở thành quản lý nhà hàng. Cậu muốn đền đáp sự tử tế tốt bụng mà cậu đã được nhận. Nếu không có sự giúp đỡ của họ, có lẽ cậu đã không thể học xong, và sẽ không có được ngày hôm nay.

Một bát cơm trắng, không phải là quá to lớn. Nhưng một bát cơm trắng với thức ăn được đặt kín đáo ở dưới đáy, đó là thể hiện của một lòng tốt không cần phô trương, của một sự bao dung, chu đáo đầy tế nhị. Và hơn hết, chính sự ân cần, cho đi không cần nhận lại mỗi ngày của hai ông bà chủ dành cho anh sinh viên nghèo khổ là nguồn động lực lớn nhất cho anh nỗ lực theo đuổi con đường học hành mà không dám nản chí dù chỉ một ngày, chính nhờ sự xúc động từ đáy lòng với hành động ấy, mà anh trở thành một người rộng lượng và lấy việc báo đáp ân nghĩa làm mục đích lớn nhất cho phấn đấu sự nghiệp của mình. Và rồi một ngày, anh đã thực sự trả ơn được cho hai vợ chồng ân nhân của mình.

Qua câu chuyện này, chúng ta thấy được một sự thật rằng, “hành thiện tích đức”, “Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo”. Những câu nói của người xưa nay càng cảm thấy thấm thía trong cuộc đời. Một người thường xuyên hành thiện thì sẽ tích được nhiều phúc đức, làm việc tốt là không mong đáp trả, tuy nhiên rồi mọi điều bạn làm đều được ghi hết lại từ việc nhỏ cho đến việc lớn, không thiếu đi một chút nào, dần dần về sau đều được đáp lại tùy theo những tốt xấu trong quá khứ đó. Cho nên, một người kiên trì, nhẫn nại, có chí lớn đều sẽ qua chịu thống khổ tạm thời mà tiến đến thành công. Người nhân hòa, đức độ với những người xung quanh đều sẽ nhận được phước báo to lớn.

Có một câu nói như sau: Lòng tốt như thứ nước hoa quý. Có ai đem cho nó mà chẳng giữ được trên tay mình vài giọt thơm… Hãy cho đi và đừng mong nhận lại, bởi một ngày nào đấy, vào lúc không ngờ nhất nhưng là lúc bạn khó khăn nhất, thì có thể lòng tốt ấy sẽ quay trở lại và giúp đỡ bạn.

Kathy Mc Williams, theo Visiontimes.

Quỳnh Anh biên dịch

Sức mạnh tuyệt diệu của sự lắng nghe


Một người nói hay không bằng một người nghe giỏi. Giao tiếp không chỉ gói gọn trong việc chúng ta nói thế nào, nói ra sao mà nó đòi hỏi chúng ta phải biết lắng nghe. Lắng nghe vốn dĩ đã là một điều kỳ diệu, nếu như lắng nghe bằng cả con tim và khối óc thì đó mãi là điều vĩ đại. Chia sẻ và được chia sẻ là chiếc cầu nối vô hình cho một mối quan hệ lâu dài, bền chặt và hạnh phúc. Con người có thể sống hòa hợp cùng nhau dưới mái nhà chung, cùng nhau làm việc có ích, cùng nhau vượt qua những điều tưởng chừng như không thể v.v…. chính là nhờ vào sức mạnh của sự chia sẻ. Khi chúng ta ngừng chia sẻ có nghĩa là mối quan hệ đã dần đi đến hồi kết. Để giao tiếp đạt tới đỉnh cao của ngôn ngữ khi nó đảm bảo hai yếu tố, có người nói và có người nghe, cuối cùng cả hai thảo luận và đi đến thống nhất, chứ không phải rằng họ đang nói chuyện với một bức tường dưới hình hài của một con người với những ngôn từ “à, ừ” lặp đi lặp lại một cách vô nghĩa.

Ai trong chúng ta cũng đều mong muốn khi giao tiếp với người khác, phải nói năng thật hay thật lưu loát, trôi chảy, phản xạ nhanh, biểu hiện nét mặt, cử chỉ, điệu bộ chuẩn và biểu cảm, mang lại hiểu quả cao, gây ấn tượng với người đối diện. Nhưng chúng ta quên rằng, người được chú ý nhất không phải là người nói nhiều nhất mà là người biết lắng nghe nhiều nhất. Chúng ta nghĩ những gì chúng ta nói nhưng không được nói hết những gì chúng ta nghĩ. Biết lắng nghe giúp chúng ta tìm ra ẩn ý, ý tứ, sở thích, mong muốn, nhu cầu, tâm tư tình cảm, băn khoăn, trăn trở, lo lắng, muộn phiền, niềm vui, sự hân hoan, v.v… từ những người xung quanh. Đôi khi lắng nghe đơn giản chỉ là nghe lại tiếng lòng của chính mình ở một thời điểm, hoặc một khoảng khắc tại một không gian bất chợt nào đó.

Có thể nói rằng, nói là gieo, nghe là gặt. Nhân duyên tạo ra con người với hai cái tai để lắng nghe, hai con mắt để nhìn cuộc đời, hai cánh mũi để thưởng thức hương vị của cuộc sống, cùng đôi bàn tay khéo léo để làm việc có ích, với đôi bàn chân khỏe mạnh để đi tới đâu chúng ta muốn nhưng lại chỉ với một cái miệng để nói.

Điều đó thật tuyệt. Tất cả những điều ấy hòa quyện đan xen vào nhau tạo thành một thực thể hoàn chỉnh. Nói ít nghe nhiều, để tâm sâu lắng.

Cuộc sống này có vô vàn những điều trái khuáy và đau khổ, tuyệt vọng, rối trí, niềm vui thì ít trái ngang thì nhiều. Trong những lúc tưởng chừng như tột cùng ấy, chúng ta cần gì nhỉ? Chúng ta cần được nói, cần được chia sẻ và cần được lắng nghe. Đơn giản là thế thôi. Biết lắng nghe đã là món quá quý giá trước khi nó được tô điểm bằng những lời động viên và khích lệ.

Lắng nghe để thấu hiểu những điều người khác nói là một nghệ thuật, nghệ thuật của sự hàn gắn, xóa mờ đi nét vằn vệt, loang lổ, trầy xước, mà cuộc đời ban tặng cho mỗi người. Nghe để thông cảm hơn nỗi đau của người khác. Nghe để biết mình đang tồn tại và được sống. Nghe để thấy nỗi đau mình trải qua ít hơn nhiều những niềm vui ta được nhận. Nghe để chúng ta nhìn thế giới này một cách khách quan hơn. Nghe để cho sợi dây yêu thương giữa chúng ta thêm gắn kết và bền lâu hơn.

Có rất nhiều bạn trẻ thắc mắc, làm thế nào để tôi lắng nghe một cách hiệu quả nhất, để người đối diện biết tôi đang nghe họ nói bằng cả tấm chân thành. Băn khoăn này không mới nhưng không phải ai cũng nhớ để làm hay thực hành theo. Lắng nghe người khác nói ngay cả khi họ nói làm chúng ta phật ý, là thể hiện sự tôn trọng bản thân mình và người đối diện. Vì ít hay nhiều mỗi cá nhân đều có đều muốn được giữ “thể diện”. Giữ cho người cũng chính là giữ cho mình.

Dưới góc độ ta là người lắng nghe người khác nói, cho dù là một nhóm người hay chỉ có một vài người thì chúng ta vẫn phải thực hành bước tóm gọn và lặp lại ý mà họ vừa nói bằng chính ngôn ngữ và biểu đạt của chúng ta, điều đó không đồng nghĩa với việc ta hoàn toàn đồng ý với quan điểm của họ nhưng đảm bảo rằng ta đang rất hiểu những gì họ nói. Đó là lắng nghe mang lại hiệu quả thỏa mãn cho cả hai bên.

Chuck Gallozzi đã bàn về việc lắng nghe như sau: “Trước khi chúng ta có thể làm lãnh đạo, chúng ta phải phụng sự. Trước khi chúng ta có thể phụng sự, chúng ta phải sẵn sàng.Trước khi chúng ta sẵn sàng, chúng ta phải học.Trước khi chúng ta có thể học, chúng ta phải lắng nghe. Trước khi chúng ta có thể lắng nghe, chúng ta phải im lặng”. Một quan điểm đúng đắn và đầy ý nghĩa.

Sự thông thái chính là tặng phẩm của một đời biết lắng nghe và im lặng đúng lúc. Chúng ta không thể đòi hỏi sự từng trải, kinh nghiệm sống của ở một người trẻ, 20 tuổi tôi cho bạn cơ hội để thử thách, được quyền sai lầm, 30 tuổi tôi muốn được nhìn thấy kinh nghiệm sống từ bạn, 40 tuổi tôi đòi hỏi sự từng trải và những thành công, 50 tuổi tôi muốn bị bạn chinh phục bởi sự chín muồi của một đời người.

Khi chúng ta lắng nghe người khác chính là lúc chúng ta khơi dậy trong họ lòng tin, sự tin cậy cần thiết, họ biết mình được tôn trọng. Thông thường, chúng ta không thể lựa cho người nói mà ta phải nghe tất cả, người ta thích cũng như người ta không thích, tưởng chừng như vô bổ nhưng nó lại mang tới rất nhiều lợi ích. Từ những lời chúng ta được nghe, tự bản thân ta đã rút ra cho mình được những bài học quý, cái gì nên cái gì không nên, điều gì cần tránh điều gì không. Thu thập và xử lý thông tin là chúng ta chứ không phải ai khác, không ai có thể chịu trách nhiệm thay ta về công việc, gia đình, bạn bè, không ai có thể sống thay ta cuộc sống này. Chúng ta chỉ có một cuộc đời để sống, làm việc và cống hiến.

Thực tế làm người biết lắng nghe rất khó. Chỉ lắng nghe radio là dễ nhất. Tại sao? Bản ngã hay cái tôi của mỗi người đếu lớn. Ai cũng muốn tôi là chính tôi, tôi không phải là cái bóng của người khác, tôi sinh ra để in dấu trong lòng người khác chứ không phải tan biến như một hạt cát vô danh. Thế đấy. Để chứng minh cho sự tồn tại cũng như khẳng định vị trí của mình ở không gian ấy, ta một nửa đang nghe nhưng một nửa lại muốn chen ngang vào câu chuyện. Nếu như nhu cầu chen ngang được chấp nhận, thì mọi việc sẽ rất dài và rất lê thê.

Trong một cuộc đối thoại gần đấy nhất mà bản thân tôi từng gặp, nó để lại cho tôi rất nhiều bài học kinh nghiệm. Sau những năm tháng làm việc ngoài xã hội, có lẽ đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng tôi mắc phải cái lưới do chính mình quăng ra. Tôi đã nói rất nhiều và người nghe cũng chỉ nghe với thái độ im lặng. Theo lẽ thường như vậy quả là rất đáng quý nhưng với cá nhân mình, tôi nhìn nhận đó không phải là là sự lắng nghe có chủ ý và mục đích, giữa người nói và người nghe không có sự tương tác qua lại, để vấn đề được cảm nhận sâu sắc hơn. Người nói cảm giác mình không được tôn trọng, còn người nghe thì khó chịu, khi sinh tâm không vừa ý thì làm sao có thể nghe và thấu hiểu hết được ý của người nói. Và đó mãi là một buổi tọa đàm thất bại.

Bất kể khi nào ở đâu, khi bắt đầu vào một cuộc thảo luận, bàn bạc, chia sẻ, tâm tình v.v…nhất thiết chúng ta phải gạt bỏ cái tôi của mình ở phía ngoài, hành trang mang theo chỉ là tấm lòng cảm thông, lí trí đủ sáng, một chút tinh ranh, hài hước để có những ý kiến hay, lời khuyên chân thành, bổ ích và đúng mực.

Có vài điều chúng ta không nên lắng nghe ví như: lời ác ý, kể xấu, kể tội người khác, bôi nhọ danh dự người khác, đánh giá người khác chủ quan theo ý kiến của mình. Chúng ta khác ở các loài hữu tình khác đó là khả năng “biết suy nghĩ” đúng sai, không ai đủ tự tin vỗ vào ngực mình mà nói rằng tôi chẳng làm sai điều gì, tôi là người tốt, tôi là người tử tế. Chúng ta có mặt trên thế gian này, để lưu truyền cái hay, cái tốt đẹp, lòng từ bi cho muôn đời sau. Thiền sư Nhất Hạnh đã từng dạy: “Hãy luôn cho đi bằng sự có mặt của chính mình”. Chúng ta có mặt ở đây để vun đắp, xây dựng tình thân ái, nối kết yêu thương giữa con người với nhau, cùng nhau làm việc có ích.

Khi tôi lắng nghe là khi tôi cho đi sự có mặt của mình và từ đó tôi cũng biết rằng mình đã nhận lại rất nhiều trong sự cho đi ấy. Cho đi để nhận lại nhiều hơn. Lắng nghe để nâng cao sự hiểu biết, cảm nhận thế giới quan, gạt bỏ cái ích kỷ, cái tôi của mỗi người. Lắng nghe để mở ra một cánh cửa mới, cánh cửa của lòng từ bi và bác ái.

(Quán Như)

Đệ Tử Qui - Phim Hoạt Hình giáo dục trẻ em đạo làm người

Tám món quà vô giá


Đó là những món quà không mất tiền mua mà bạn có thể tặng cho những người xung quanh
1. Món quà từ sự lắng nghe:

Khi bạn thực sự lắng nghe, bạn chú ý, không ngắt ngang, không mơ màng, chỉ lắng nghe để cảm nhận về thấu hiểu. Đó là món quà vô giá thứ nhất bạn có thể dành cho người khác đặc biệt là những người thân yêu của mình.

2. Món quà từ sự trìu mến:

Hãy thể hiện sự trìu mến với những người thân yêu bằng những lời nói ân cần và cử chỉ trìu mến, bạn sẽ thấy điều kỳ diệu.

3. Món quà từ sự vui tươi:

Hãy cắt những biến họa, chia sẻ những mẩu chuyện cười và những tin vui nhộn cho các cộng sự và người thân. Họ sẽ hiểu và cảm nhận rằng bạn luôn muốn chia sẻ niềm vui và do đó họ sẽ dành cho bạn những điều to lớn hơn.

4. Món quà từ những mẩu giấy viết tay:

Hãy viết ra từ những lời chân thật, dù rất ngắn, nó có sức mạnh phi thường đấy, dù nó là dòng chữ “cảm ơn bạn đã giúp đỡ tôi” hay “xin lỗi vì mình đã quá nóng với bạn”. Hay thậm chí một bài thơ hay một lời khuyên đẹp. Chính những điều nho nhỏ đó, có thể đi suốt cuộc đời ta.

5. Món quà từ sự khen ngợi:

Sự ngợi khen thật lòng có sức mạnh không ngờ, đó có thể là “chiếc áo đỏ thật tuyệt với bạn” hay “một bữa ăn rất ngon” có thể đem lại niềm vui cho người khác suốt cả ngày.

6. Món quà từ sự giúp đỡ:

Mỗi ngày hãy chủ động àm một vài điều tử tế, bạn sẽ thấy cuộc sống thật vui vẻ và nhẹ nhàng.

7. Món quà của sự yên tĩnh:

Hãy luôn nhạy cảm về điều này và để sự yên tĩnh cần thiết cho người khác cũng như có những lúc bạn cần sự yên tĩnh ấy.

8. Món quà từ sự thân thiện:

Hãy vui vẻ nói “Xin chào”, “Hi”, “Hello”, “khỏe không? Mọi việc ổn chứ”… điều thật dễ dàng nhưng sẽ đọng lại hình ảnh tốt của bạn nơi người thân.

(Báo mực tím)

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14: Điều gì làm Ngài ngạc nhiên nhất ở nhân loại?

 
Có người hỏi Đức Dalai Lama: "Điều gì làm Ngài ngạc nhiên nhất ở nhân loại?". Ngài trả lời: "Con người … bởi vì con người phung phí sức khỏe để tích tiền của, rồi lại bỏ tiền ra để tìm mua lại sức khỏe...

MỘT ĐỜI NGƯỜI QUÝ BÁU

"MỖI NGÀY, KHI THỨC DẬY, QUÝ VỊ HÃY SUY TƯỞNG:
HÔM NAY TÔI THẬT MAY MẮN ĐƯỢC THỨC DẬY,
TÔI CÒN SỐNG, TÔI ĐÃ CÓ MỘT ĐỜI NGƯỜI QUÝ BÁU,
TÔI SẼ KHÔNG LÃNG PHÍ NÓ,
TÔI SẼ SỬ DỤNG TOÀN BỘ NĂNG LỰC CỦA TÔI ĐỂ PHÁT TRIỂN BẢN THÂN.
ĐỂ MỞ RỘNG TRÁI TIM TÔI TỚI NHỮNG NGƯỜI KHÁC,
ĐỂ THÀNH TỰU GIÁC NGỘ VÌ LỢI LẠC CỦA TẤT CẢ CHÚNG SINH,
TÔI SẼ CÓ NHỮNG TƯ TƯỞNG TỐT LÀNH ĐỐI VỚI NGƯỜI KHÁC,
TÔI SẼ KHÔNG GIẬN DỮ HAY NGHĨ XẤU VỀ NGƯỜI KHÁC.
TÔI SẼ LÀM LỢI ÍCH CHO NGƯỜI KHÁC CÀNG NHIỀU CÀNG TỐT TRONG KHẢ NĂNG CỦA TÔI".

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14


A PRECIOUS HUMAN LIFE


"Everyday, think as you wake up, today I am fortunate to have woken up, I am alive, I have a precious human life, I am not going to waste it, I am going to use all my energies to develop myself. To expand my heart out to others, to achieve enlightenment for the benefit of all beings, I am going to have kind thoughts towards other, I am not going to get angry, or think badly about others. I am going to benefit others as much as I can".

by H. H. The 14th Dalai Lama


Ý NGHĨA THỰC SỰ CỦA CUỘC ĐỜI

"Chúng ta là những lữ khách trên hành tinh này.
Chúng ta có mặt ở đây nhiều lắm là chín mươi hay một trăm năm.
Trong quãng thời gian đó, với cuộc đời của chúng ta,
ta phải cố gắng làm những điều tốt lành và ích lợi.
Nếu quý vị góp phần vào việc mang lại hạnh phúc cho người khác,
quý vị sẽ tìm thấy mục đích chân thực, ý nghĩa thực sự của cuộc đời”.

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14


THE TRUE MEANING OF LIFE


We are visitors on this planet. we are here for ninety or one hundred years at the very most. During that period, we must try to do something good, something useful, with our lives. If you contribute to other people’s happiness, you will find the true goal, the true meaning of life".

H. H. The 14th Dalai Lama


Có người hỏi Đức Dalai Lama:
"Điều gì làm Ngài ngạc nhiên nhất ở nhân loại?"
Ngài trả lời:
"Con người … bởi vì con người phung phí sức khỏe để tích tiền của, rồi lại bỏ tiền ra để tìm mua lại sức khỏe.
Và vì quá lo nghĩ cho tương lai, con người quên mất hiện tại, đến nỗi không sống với hiện tại lẫn tương lai.
Con người sống như thể sẽ không bao giờ chết … Nhưng rồi sẽ chết như chưa từng sống bao giờ".

Tôn giáo nào tốt nhất ?





Đây là một mẩu đối thoại ngắn với Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà Thần học người Brazil, Leonardo Boff kể lại:

Tại một cuộc hội thảo bàn tròn về “Tôn giáo và tự do” có Đức Đạt Lai Lạt Ma và tôi cùng tham dự.
Lúc tạm nghỉ, tôi hỏi ngài vừa tinh nghịch vừa tò mò:
“Thưa ngài, tôn giáo nào tốt nhất?”
Tôi nghĩ ngài sẽ nói:
“Phật giáo Tây tạng” hoặc “Các tôn giáo phương Đông, lâu đời hơn Ki tô giáo nhiều”.
Đức Đạt Lai Lạt Ma trầm ngâm giây lát, mỉm cười và nhìn vào mắt tôi…
Điều này làm tôi ngạc nhiên vì tôi biết đây là một câu hỏi ranh mãnh.
***Ngài trả lời:
“Tôn giáo tốt nhất là tôn giáo đưa anh đến gần Đấng tối cao nhất.
Là tôn giáo biến anh thành con người tốt hơn”.
Để giấu sự bối-rối của tôi trước một câu trả lời đầy khôn ngoan như thế, tôi hỏi:
“Cái gì làm tôi tốt hơn?”
***Ngài trả lời:
“Tất cả những gì làm anh
Biết thương cảm hơn
Biết theo lẽ phải hơn
Biết từ bỏ hơn
Biết dịu dàng hơn
Biết nhân hậu hơn
Có trách nhiệm hơn
Có đạo đức hơn”.
“Tôn giáo nào biến anh thành như vậy là tôn giáo tốt nhất”.
Tôi thinh lặng giây lát, lòng đầy thán phục, ngay cả bây giờ, khi nghĩ đến câu trả lời đầy khôn ngoan và khó phản bác, Ngài tiếp:
“Anh bạn tôi ơi!
Tôi không quan tâm đến tôn giáo của anh hoặc anh có ngoan đạo hay không. Điều thật sự quan trọng đối với tôi là cách cư xử của anh đối với người đồng đẳng, gia đình, công việc, cộng đồng và đối với thế giới.
Hãy nhớ rằng vũ trụ dội lại hành động và tư tưởng của chúng ta. Quy luật của hành-động (Action) và phản-ứng (Reaction) không chỉ dành riêng cho vật lý. Nó cũng được áp dụng cho tương quan con người.
Nếu tôi ở hiền, thì tôi gặp lành.
Nếu tôi gieo gió, thì tôi gặt bão.
Những gì ông bà nói với chúng ta là sự thật thuần túy. Chúng ta luôn nhận được những gì chúng ta làm cho người khác. Hạnh phúc không phải là vấn đề số mệnh. Đó là vấn đề lựa chọn.”
***Cuối cùng ngài nói:
“Hãy suy tư cẩn thận vì Tư tưởng sẽ biến thành Lời nói,
Hãy ăn nói cẩn thận vì Lời nói sẽ biến thành Hành động,
Hãy hành xử cẩn thận vì Hành động sẽ biến thành Thói quen,
Hãy chú trọng Thói quen vì chúng hình thành Nhân cách,
Hãy chú trọng Nhân cách vì nó hình thành Số mệnh,
Và Số mệnh của anh sẽ là Cuộc đời của anh.
… và …
<<< Không có tôn giáo nào cao trọng hơn Sự Thật. >>>”

7 BÀI HỌC học mãi vẫn chưa thuộc!


Học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được!

Thứ nhất, “học nhận lỗi”. 
Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng, thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.

Thứ hai, “học nhu hòa”. 
Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được. Tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu tập.

Thứ ba, " học nhẫn nhục”. 
Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.

Thứ tư, “học thấu hiểu”.
Không thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?

Thứ năm, “học buông bỏ”. 
Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề, không tự tại một chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng, bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới tự tại được!

Thứ sáu, “học cảm động”. 
Nhìn thấy ưu điểm của người khác chúng ta nên hoan hỷ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm động là tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói, làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.

Thứ bảy, “học sinh tồn”. 
Để sinh tồn, chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh; thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình, bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu đễ với người thân.

Đạt Lai Lạt Ma

Mỉm cười trong đau khổ


HT. THÍCH TRÍ QUẢNG

Cười trên sự đau khổ của người khác là ác. Cười trong đau khổ của chính mình, gọi là cười ra nước mắt, thì cũng không phải. Chủ đề này tôi muốn nói là nụ cười của hành giả Pháp Hoa, hay nói khác, nụ cười của Đức Phật.

Chúng ta học Phật cũng học theo nụ cười của Phật, vì Phật dạy rằng từ vô lượng kiếp xa xưa, Ngài cũng từng là chúng sinh, nên cũng đã nếm mùi đau khổ tận cùng ở địa ngục A tỳ; nhưng cũng có lúc Ngài hưởng lạc thú của thiên đường. Có thể thấy rõ cuộc đời của chúng sinh lẫn lộn khổ vui, hết vui đến khổ, hết khổ lại vui. Còn ở cõi Trời thì chỉ có vui, không khổ; nhưng hưởng hết phước là hết vui rồi khổ sinh ra và rớt xuống trần gian thì vui ít mà khổ nhiều, phải trầm luân trong sinh tử. Và tạo thêm ác nghiệp nữa thì chẳng còn niềm vui nào cả, chỉ toàn là khổ và khổ mà thôi, tức là đã đọa vào địa ngục. Đây là kinh nghiệm sống mà Đức Phật đã từng trải qua; cho nên Ngài quyết chí tu hành, thành tựu quả vị Phật. Từ đó Ngài đưa ra tất cả pháp môn nhằm giải quyết mọi việc của chúng sinh một cách tốt đẹp.

Đức Phật dạy trong kinh Pháp Hoa rằng, nếu nhìn bằng mắt Phật thì không có sinh tử, không có khổ đau, nhưng vì chúng sinh bị vô minh, vọng kiến ngăn che, nên sinh các tánh ham muốn khác nhau, tạo tội sai biệt. Vì vậy, chúng sinh mới trôi lăn trong sinh tử.

Tạo tội sai biệt và khổ đau là nghiệp thuộc về ảo giác, không có thực. Nói cách khác, nghiệp phát xuất từ lòng ham muốn, từ đó mới sinh ra nghiệp, mới dẫn đến khổ đau. Đức Phật và Thánh chúng ngộ đạo, đắc đạo, thấy không có khổ đau và các Ngài chứng được Niết bàn, tức ở trong trạng thái tâm hoàn toàn thanh thản. Vì vậy, khi chúng ta tĩnh lặng, quán sát cuộc đời, thấy rõ nỗi khổ hay niềm vui đều do con người tưởng ra mà có; như vậy, cuộc sống khổ vui đều do con người tự quyết định cho mình. Đối trước một sự việc, người này thấy khổ, nhưng người khác thấy vui.

Nhìn theo Phật, thấy rõ chúng sinh trong tam giới không ai khổ cả, nhưng nói có khổ là do tâm khổ. Ví dụ tất cả Phật tử ngồi trong hội trường này, sinh hoạt giống nhau, thân tứ đại cũng giống nhau, không có khổ. Tuy nhiên, trong đại chúng, mỗi người có tâm tưởng khác nhau, vì nghiệp duyên khác nhau; cho nên tạo khổ, khổ này là do tâm tạo ra. Có người nói do nghèo, do mất người thân, do làm ăn sa sút, nên khổ; đương nhiên những điều này có thể do hoàn cảnh bên ngoài tác động đến tâm chúng ta, nhưng phần chính yếu vẫn do tâm chúng ta quyết định khổ hay vui.

Thật vậy, Đức Phật đã trải thân thể nghiệm điều này. Khi còn ở ngôi vị Thái tử, Ngài hưởng phú quý vinh hoa tột đỉnh; nhưng Ngài cảm thấy khổ vì bị nhốt trong ngục vàng, thân và tâm không được tự do, đi đâu cũng có người đi theo hầu hạ và không phải muốn đi đâu cũng được. Mặc dù sống trong nhung lụa, Ngài đã nhận thấy xã hội ràng buộc Ngài đủ cách, hàng trăm dây phiền não, hàng ngàn dây trói buộc Ngài, gọi là thập triền thập sử. Như vậy, chúng ta thấy không phải người sống vinh hoa, phú quý, giàu sang không khổ, mà chính vì cuộc sống giàu sang làm người ta khổ. Người giàu khổ thậm chí đến mất ăn mất ngủ. Tôi tiếp xúc với những doanh nhân quản lý hàng vạn công nhân, họ nói với tôi rằng họ quá khổ. Quản lý một doanh nghiệp lớn không dễ chút nào, sơ hở một chút là bị phá sản. Người làm vua, làm tướng cũng khổ. Ta chưa bước chân vào đó, nên không thấy được cái khổ này. Làm vua thì phải lo cho đất nước, lo cho sự sống của mọi người, lo cho an ninh chung; sơ hở là loạn. Còn hôn quân vô đạo thì bị gian thần chi phối, cho đến sụp đổ, chết như chơi. Vì vậy, những người có phước báu mà không biết giữ gìn thì biến phước thành nghiệp trong chớp mắt. Người đi tìm sự an lạc trong phú quý vinh hoa cũng giống như người khát tìm nước trong sa mạc.

Các Tỳ kheo không có thức ăn để dành vẫn sống an lạc như thường. Còn người chủ đàn bò có dư tiền của dùng cả năm không hết, nhưng lại quá đau khổ là do vô minh, vọng kiến mà sinh ra. Chúng ta nhận thấy trong thực tế cuộc sống, người có phước không tham lam, không chấp trước; nhưng nhờ có phước, cho nên những điều tốt lành tự tới với họ. Còn nếu chúng ta trôi lăn trong sinh tử nhiều đời, tạo tất cả nghiệp ác, thì oan gia nghiệp chướng cũng sắp hàng đến với mình, hết oan gia này đến oan gia khác, đi tu cũng không trốn được. Tuy nhiên, oan gia tìm đến đòi nhưng chỉ đòi được người thiếu nợ thôi; vì không nợ thì làm sao họ đòi được.

Các vị Thiền sư luôn mỉm cười an lạc trong thiền quán, vì các Ngài vui trong nội tâm. Ở bên ngoài, cuộc sống vật chất có thể không có thức ăn, không có chỗ nghỉ, nhưng lòng tham muốn của các Ngài không còn, thì sự nghiệp vật chất có nghĩa gì; lòng thương ghét không còn thì có gì làm khổ các Ngài được. Chúng ta thấy cuộc sống của các Ngài đạm bạc, tưởng rằng các Ngài khổ, nhưng có khổ đâu. Đức Phật khi tu khổ hạnh, da bụng dính xương sống, nhưng Ngài không hề khổ; trong khi chúng sinh có đủ thứ, mà vẫn luôn khổ, vì không thỏa mãn lòng tham không đáy, mới dẫn đến việc đi sâu vào tội lỗi, cho đến phải trả cái án tử hình mới tạm thời chấm dứt cái khổ của thân vật chất, còn cái khổ của tưởng ấm, hành ấm và thức ấm vẫn tiếp tục tiếp diễn trong cái thân trung ấm, làm nhân cho sự tái sinh vào thế giới khổ đau tương ưng với nghiệp của họ.

Vì vậy, Đức Phật nói rằng từ không sinh tử mà tạo nên sinh tử, không khổ mà tạo khổ, từ khổ trong tâm tạo thành tất cả nỗi khổ của chúng sinh. Từ khổ của địa ngục trần gian là thân tứ đại và tạo tội thật thì vào địa ngục khổ hơn nữa, cho đến cái khổ không bao giờ chấm dứt ở địa ngục A tỳ. Đức Phật cũng từng vào địa ngục A tỳ, nên Ngài mang kinh nghiệm này dạy chúng ta. Chúng ta học Phật, thức tỉnh, không đi con đường này, mà đi ngược dòng theo Phật để tháo gỡ nghiệp chướng, phiền não, trần lao. Nghiệp chướng không cho sinh, phiền não khởi thì cắt bỏ.

Trên bước đường tu, đối diện với khổ đau, nghiệp chướng, phiền não, vẫn mỉm cười được; vì chúng ta nhận diện được nó. Thấy nó, chúng ta mừng và mỉm cười. Nhận diện bằng cách nào? Đời trước chúng ta thiếu họ tiền, nên biết họ là chủ nợ của mình. Chủ nợ gần nhất của mọi người là vợ, là con, là sự nghiệp; vì khi chưa có ba thứ này thì có gì ràng buộc mình, hoàn toàn được thanh thản, tự do. Vì vậy, người đời thường nói rằng sướng nhất là tuổi học trò chỉ biết ăn và học thôi; nhưng khi có vợ con, có nhà ở thì khác rồi. Lúc đó, con là nợ, vợ chồng là oan gia, cửa nhà là nghiệp chướng. Tu như quý thầy là sướng, nhưng cũng chưa chắc; vì nếu có nợ mà trốn vô chùa, họ cũng sẽ theo đòi.

Người đời có được vợ con, tạo được nhà cửa, việc làm, bề ngoài thấy sướng, gọi là an bề gia thất; nhưng bên trong, lòng rối bời, bao nhiêu việc đặt ra cho họ. Nếu vợ con, cửa nhà do phước báu mà có là thiện nghiệp thì cũng còn sướng được phần nào; nhưng do ác nghiệp mà thành thì khổ ơi là khổ. Nghĩa là sự nghiệp do ác nghiệp tạo thì người ta phải làm tôi mọi cho nó. Địa ngục này còn nặng hơn địa ngục A tỳ; vì địa ngục A tỳ còn có ngày mãn. Còn địa ngục này không có bản án, nên người ta trở thành nô lệ cho sự nghiệp, nô lệ cho công nhân, nô lệ cho gia đình. Tất cả những thứ này thật sự không có, nhưng vì người ta tự tạo nghiệp cho mình, tự tạo phiền não cho mình.

Nhìn theo Phật huệ, thấy ai cũng được an lạc, giải thoát; chỉ vì vô minh mà tạo ác nghiệp và từ nghiệp này sinh ra nghiệp khác chồng chất không chịu nổi để rồi rơi vào địa ngục. Nương Phật pháp, có thể tháo gỡ nghiệp và phiền não. Đầu tiên, Phật khuyên chúng ta quy y Tam bảo, nghĩa là hướng tâm về Phật, Pháp và Tăng. Trước kia, chúng ta hướng tâm theo nghiệp, theo ham muốn; cho nên từ nguồn sông mê mà dẫn lọt vào biển khổ. Nhìn thực tế cuộc sống cũng nhận ra cái khổ không thoát được. Chúng ta phải tìm chỗ nương tựa và Tam bảo là chỗ nương tựa quý giá nhất. Ngài Nhật Liên cũng nói trong bốn trọng ơn là ơn cha mẹ, ơn thầy bạn, ơn xã hội, ơn thí chủ thì chỉ có ơn Phật là lớn nhất. Xá Lợi Phất cũng từng bộc bạch với Phật rằng ơn Phật dù có dùng đầu đội, dùng hai vai cõng vác trải qua trăm ngàn muôn ức kiếp cũng không đền đáp được công ơn cứu độ của Phật.

Vì vậy, hàng đệ tử Phật giác ngộ, đều phát tâm quy y Tam bảo bằng tất cả tấm lòng. Người quy y Phật đầu tiên là năm anh em Kiều Trần Như, sau đó, giáo đoàn được mở rộng, Đức Phật mới quy định rằng ai muốn làm đệ tử Phật phải quy y theo Phật, theo giáo pháp và sống hòa hợp trong tập thể Tăng đoàn. Nương theo Tam bảo, chúng ta mới tháo gỡ lần những ràng buộc, phiền não. Nhiều người tu mà không nhận ra yếu lý này, cho nên càng tu lại càng thấy bị ràng buộc hơn, phiền não hơn. Nương tập thể Tăng để tự tháo gỡ phiền não, trần lao, nghiệp chướng. Ngược lại, nếu kết bè đảng với ác ma, tức tập họp với nhóm người vô minh thì sẽ dẫn vào đường ác.

Phật tử nên hiểu rằng quy y Phật là đi theo con đường sáng, trước tiên là từ Phật tâm của mình hướng về Đức Phật thật để tạo mối quan hệ giữa ta với Phật. Nhờ Phật hộ niệm, dìu dắt, tâm ta sáng lần và từ lòng chúng ta tin Phật và tiếp nhận hào quang Phật soi rọi, lòng chúng ta sáng lần, vô minh tan, nghiệp chướng mất, là ham muốn không còn nữa thì sự nghiệp của chúng ta lớn và lâu dài. Thật vậy, chúng ta không tham muốn, nhưng nhờ sống với phước đức và trí tuệ của mình, cho nên bạn bè thương mến, gần gũi, hợp tác, chúng ta dễ dàng tạo dựng và phát triển được sự nghiệp.

Các Phật tử đạo tràng Pháp Hoa phát tâm quy y, khởi đầu có pháp y màu vàng tiêu biểu cho Tam bảo, nhắc nhở quý vị suốt đời chỉ nương vào Phật để nhờ Phật huệ rọi sáng tâm ta, nương vào giáo pháp của Phật để mở mang trí tuệ của ta và nương vào tập thể Tăng sống trong Chánh pháp, có đời sống phạm hạnh thật sự đều là thầy mình để ta nhận được sự an lành. Và bên trong pháp y có miếng vải màu trắng tiêu biểu cho niềm tin trong trắng của chúng ta đối với Tam bảo, Phật, Pháp, Tăng để sống. Trên pháp y có 7 hạt sen tròn và 8 cánh sen tiêu biểu cho Thất Bồ đề phần và Bát chánh đạo. Trong Thất Bồ đề phần, quan trọng nhất là Trạch pháp, tức là lựa pháp tu thích hợp với mình để phát sanh được công đức và trí tuệ; không biết lựa pháp thích hợp thì dễ sinh ra phiền não.

Riêng tôi, từ thuở nhỏ đã trì kinh Pháp Hoa và thầy tôi là Hòa thượng Trí Đức học Pháp Hoa với Tổ Thiên Thai.Ngài dạy Hòa thượng chỉ tụng quyển thứ 7 của kinh Pháp Hoa thôi và trì chú Chuẩn Đề, lạy ngũ hối nghi. Thầy tôi tin lời Tổ một cách tuyệt đối, Tổ nói sao thì làm đúng như vậy và làm đúng thì được an lành. Tôi suy nghĩ tìm ý Tổ xem tại sao Ngài bảo chỉ tụng quyển 7 của kinh Pháp Hoa. Tôi nhận thấy trong quyển thứ 7, có Bồ tát Diệu Âm xuất hiện trên cuộc đời như là hoa sen. Ngài ở thế giới Diệu Hỷ ở phương Đông, nhưng xuất hiện ở núi Kỳ Xà Quật, hay hiện thân trên cuộc đời này ở trên hoa sen. Điều đó nhằm dạy chúng ta rằng tu Pháp Hoa, phải làm sao trụ tâm ở Diệu Hỷ, nhưng hiện hữu trên cuộc đời là hoa sen. Còn chúng ta mang thân tứ đại mà bệnh hoạn, đòi hỏi đủ điều thì dễ chuốc họa vào thân. Tâm ở Niết bàn là không đòi hỏi bất cứ thứ gì của trần gian này, chúng ta mới sống được ở Ta bà. Chúng ta có đòi hỏi nào thì sẽ có phản ứng tự nhiên ngược lại liền; muốn ăn thì người ta sẽ quên phát phần ăn cho mình. Nếu biết đó là nghiệp khảo thì nên mỉm cười.

Ngoài ra, trong quyển thứ 7 kinh Pháp Hoa, có Bồ tát Quan Âm xuất hiện trên cuộc đời theo yêu cầu của chúng sinh. Học theo hạnh của Ngài, ta đến đâu vì yêu cầu của người, không bắt buộc người theo ta, chắc chắn được an lạc. Riêng tôi, không bắt ai làm, nhưng người đến xin làm thì tôi mới chia sẻ. Hòa thượng Trí Tịnh dạy rằng Phật pháp phải đem sinh mạng để đánh đổi còn chưa được, đâu phải cá ươn mà nài ép người.

Điều thứ ba học theo Bồ tát là muốn làm Phật sự, nên tự xét coi công đức ta có đủ hay không, trí tuệ có chưa. Nghĩa là hành đạo, phải nghĩ đến Bồ tát Phổ Hiền có thần thông tự tại, uy đức vô song là điều quan trọng. Đối với các pháp, ta có tự tại chưa, uy đức của ta hàng phục được ma oán không. Người khác chưa kính nể ta thì đừng làm. Uy đức của Phổ Hiền vô song mới làm được và Ngài còn có vô số Bồ tát hợp tác với Ngài, đó là quyến thuộc Bồ đề. Muốn làm được việc lớn, xem quyến thuộc Bồ đề của chúng ta có bao nhiêu và thuộc thành phần nào.

Đức Phật Thích Ca thọ ký cho Bồ tát Di Lặc kế đây thành Phật, nhưng Đức Di Lặc chưa ra đời, vì quyến thuộc của Ngài chưa thuần thục. Nếu quyến thuộc của mình toàn là nghèo đói, bệnh hoạn thì làm được gì. Quyến thuộc thuần thục là tâm được thanh tịnh, phước đức đầy đủ, thì Đức Di Lặc mới ra đời làm Phật.

Tôi gặp Hòa thượng Giác Chánh, Ngài nói một câu tôi nghe cũng tâm đắc. Hòa thượng nói rằng "Tôi sanh trên cuộc đời này, không thể hoằng pháp lợi sanh được, vì không có quốc vương, vương tử, đại thần hộ pháp”. Vì Hòa thượng sinh ở thời kỳ Pháp thuộc, nên phải ẩn tu. Ngài tu hành rất nghiêm túc, Ngài Thiền thay cho ngủ, nên suốt đời ngồi, không nằm; đó là một bậc cao tăng hiếm có trên thế gian.

Bồ tát Phổ Hiền xuất hiện trên cuộc đời, vì có vô số Bồ tát thuần thục đi theo Ngài; người làm vua, người làm tướng, người làm quan ủng hộ thì Phật pháp mới hưng thạnh. Điều này khiến tôi liên tưởng đến Thiền sư Vạn Hạnh và Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông. Các Ngài hiện thân trên cuộc đời có nhiều quyến thuộc tốt và tài giỏi, sống chết với các Ngài để cùng xây dựng đất nước và phát triển Phật pháp. Còn chúng ta có quyến thuộc mà người phá hại thì nhiều, người xây dựng thì ít, cho nên khó làm được việc lớn. Ngoài ra, Bồ tát Phổ Hiền đến đâu thì trời mưa hoa, châu báu rải xuống, mang an lạc cho trời người.

Đọc quyển thứ 7 kinh Pháp Hoa, tôi nhận ra cốt tủy như vậy, cho nên tôi nỗ lực xây dựng quyến thuộc Bồ đề và phát huy công đức của mình. Vì vậy, phải cố gắng tiêu dùng ít để thặng dư mới làm được. Có phước đức thì quyến thuộc tốt, làm được nhiều việc và mang an lạc đến cho người.

Trong Bổn môn Pháp Hoa, phần chính yếu được Ngài Nhật Liên dạy là chỉ đọc tụng phẩm Như Lai thọ lượng thứ 16, phẩm Tùng địa dũng xuất thứ 15 và nửa phẩm Phân biệt công đức thứ 17, không tụng trọn bộ kinh Pháp Hoa. Và Ngài cũng ngộ đạo, đắc đạo thực; cho nên Ngài làm được việc lớn. Trước tiên là Ngài mỉm cười được với cuộc đời trong bất cứ tình huống nào; vì Ngài thấy được thật tướng các pháp, lý giải được muôn sự muôn việc của trần gian, không bị vướng mắc, khổ lụy.

Theo phẩm Như Lai thọ lượng thứ 16 nói về thọ mạng của Đức Phật, thì Phật không có sinh tử, tức Phật ở Niết bàn và Ngài có lục vạn hằng hà sa quyến thuộc là Bồ tát Tùng địa dũng xuất. Ngộ được yếu nghĩa này, tôi luôn cầu nguyện Bồ tát Tùng địa dũng xuất giúp đỡ tôi. Tụng Bổn môn Pháp Hoa, nhắm vô Bồ tát Tùng địa dũng xuất ngang qua thế giới nội tâm thanh tịnh của mình, thì nhận được sự hỗ trợ bên trong từ thế giới vô hình, cho nên người xung quanh không ai biết, không ai tranh giành được. Tôi nhớ Hòa thượng Trí Thủ từng dạy tôi rằng "Ta biết, Phật biết, nó không biết, nên không phá ta được. Chỉ có sự gắn bó giữa ta và Phật cùng Bồ tát, cứ như thế mà ta phát triển trên bước đường tu”. Vì vậy, trong kinh Pháp Hoa, Di Lặc Bồ tát hỏi Phật rằng Ngài mới xuất hiện trên cuộc đời hơn 40 năm, làm sao giáo hóa độ được vô số Bồ tát kim sắc thân như vậy.

Tu Bổn môn Pháp Hoa,theo Ngài Nhật Liên, phải thấy được Bồ tát Tùng địa dũng xuất và kết nối được với các Ngài bằng cách tu bốn hạnh của bốn vị Bồ tát Tùng địa dũng xuất thượng thủ là Thượng hạnh, Vô biên hạnh, Tịnh hạnh và An lập hạnh, thì sẽ nhận được lực gia bị của các Ngài. Tôi rất tâm đắc với lý này, cho nên gặp hoàn cảnh khó khăn, khổ đau, tôi mỉm cười được; vì biết các Ngài luôn gia hộ cho mình, nên không lo sợ.

Nửa phẩm Phân biệt công đức thứ 17, ý chính là Đức Phật bảo Di Lặc rằng khi Ngài nói thọ mạng dài lâu của Đức Như Lai là Phật pháp thân, thì có vô số Bồ tát chứng được Vô sanh pháp nhẫn, Văn trì Đà la ni, nhạo thuyết biện tài, chuyển được pháp luân bất thối và phát đại tâm cầu Vô thượng đạo.

Văn trì Đà la ni là người nghe rồi, nhớ được, hiểu được và làm theo được; vì Đà la ni là huệ. Cho nên nghe phải thấm sâu vào lòng, có thể quên ngôn ngữ, nhưng pháp âm Phật vang trong lòng, mới sống được với pháp, gọi là ngày đêm tự mình nương pháp ở, tức thăng hoa được tâm linh.

Nhạo thuyết biện tài là nói pháp hoài mà không chán và người nghe cũng không chán. Có bốn thứ biện tài là từ biện tài, nghĩa biện tài, lý biện tài và nhạo thuyết biện tài.

Chuyển được pháp luân bất thối, nghĩa là bản thân ta bất thoái chuyển và chúng ta dạy người nghe cũng được bất thoái chuyển, một mạch tiến tới Vô thượng Bồ đề, không bỏ cuộc nửa chừng.
Tóm lại, nhận chân được tinh ba của pháp Phật, chúng ta không lo mất thân tứ đại, vì chúng ta đã có chân linh, sống được với chân linh và có quyến thuộc Bồ đề. Vì vậy, cuộc đời này diễn ra như thế nào là việc của nó, có khó khăn hay nguy hiểm, khổ đau, chúng ta cũng an nhiên mỉm cười và từng bước chúng ta vượt qua. Các bậc cao tăng đi trước đã thể nghiệm yếu nghĩa này một cách rõ nét trong cuộc đời giáo hóa độ sinh của các Ngài. Bước theo dấu chân các Ngài, chúng ta học với các Ngài, tiếp thu được những yếu lý và phát huy trong cuộc sống của mình, chắc chắn sẽ gặt hái được những điều kỳ diệu như Phật và chư vị Tổ sư đã thành tựu.

Source: www.chuahuenghiem.net

Hạnh phúc giữa đời thường


HT. THÍCH TRÍ QUẢNG

Hạnh phúc giữa đời thường chúng ta nên hiểu thêm là hạnh phúc của người tu, của chư Thiên, của Bồ-tát và của Phật. Mỗi tầng lớp xã hội có quan niệm hạnh phúc khác nhau. Trước nhất, phải hiểu hạnh phúc là gì. Hạnh phúc là ghép hai chữ hạnh và phúc. Hạnh là may mắn, phúc là đầy đủ. Người gặp may mắn và có đầy đủ mong ước, muốn gì cũng được, gọi là có hạnh phúc. Người không gặp may mắn và ước mơ nhiều nhưng không bao giờ được, gọi là bất hạnh.

Người Trung Quốc viết chữ phúc gồm có chữ y là áo, với chữ nhất, chữ khẩu và chữ điền, gộp lại nghĩa là người có phước thì có đầy đủ cơm ăn, áo mặc. Người xưa quan niệm hạnh phúc là như vậy, vì nếu thiếu cơm ăn, áo mặc là khổ. Ngoài cơm ăn, áo mặc, còn phải có chỗ ở, đây là nhu cầu vật chất tối thiểu mà một người phải có trong cuộc sống. Có đầy đủ cơm ăn, áo mặc và chỗ ở là có hạnh phúc; nếu thiếu ba thứ này gọi là bất hạnh.

Về cơm ăn, áo mặc, lúc đầu người ta chỉ cần ăn đủ no, mặc đủ ấm thôi là hai nhu cầu chính của con người; nhưng khi con người đã được no cơm ấm áo, thì họ lại có nhu cầu cao hơn là ăn ngon, mặc đẹp và chỗ ở sang trọng thì mới được coi là hạnh phúc.

Tuy nhiên, khi cơm ăn, áo mặc và chỗ ở hoàn toàn tốt đẹp rồi, người ta thấy vẫn chưa có hạnh phúc, vì tâm lý con người lại nảy sinh việc khác nữa là yếu tố tình cảm bên trong. Thực tế cho thấy người giàu có hay người có địa vị hoàn toàn đầy đủ cơm áo và chỗ ở sang trọng, nhưng họ không được hạnh phúc, họ vẫn bị đau khổ. Như vậy, khi nào con người được thỏa mãn cái họ ham muốn thì mới thấy hạnh phúc, chưa thỏa mãn thì vẫn cho là bất hạnh. Như vậy, hạnh phúc và bất hạnh nằm trong chữ ham muốn.

Đức Phật thành đạo, Ngài quán sát kỹ thấy chúng sanh trong sáu đường sinh tử, từ người giàu nhất cho đến người nghèo nhất, hay từ cõi trời Hữu Đảnh xuống đến địa ngục A tỳ, Phật nói trong kinh Pháp hoarằng chúng sinh thiệt không có sinh tử, nhưng vì vô minh, vọng kiến ngăn che, nên sanh các tánh ham muốn khác nhau, mới tạo nghiệp khác nhau, mới có sáu đường sinh tử. Như vậy, cái gốc của khổ đau trong sáu đường sinh tử là do tánh ham muốn khác nhau và tạo nghiệp khác nhau.

Khi Phật dẫn đoàn Tỳ-kheo đi khất thực, trên đường đi, gặp người chủ trang trại giàu có bị mất bò. Ông đi tìm bò với nét mặt tuyệt vọng, thậm chí ông muốn tự tử. Phật mới nói với các Tỳ-kheo rằng các thầy hạnh phúc hơn ông chủ nông trại, vì không có gì để mất, nghĩa là trong lòng các thầy không còn ham muốn, nên không có một vật trong tay, nhưng cảm thấy an lạc, hạnh phúc.

Hạnh phúc đặt ra ở đây là sự an lạc trong lòng, còn cơm ăn, áo mặc, nhà ở là thứ yếu. Vì vậy, Phật tử thường chúc nhau được tâm an lạc. Có tâm an lạc thì giàu hay nghèo cũng đều hạnh phúc giữa đời thường.

Như vậy, hạnh phúc lớn nhất của con người là tâm an lạc, nhưng muốn tâm an lạc,Phật dạy chúng ta tu hành, cần tránh tất cả những điều ác. Điều ác là điều làm tổn hại người khác, tổn hại các loài khác để mưu cầu hạnh phúc cho mình thì không bao giờ có được, giống như Tần Thủy Hoàng gồm thu cả thiên hạ, ông giết và hại không biết bao nhiêu người, người nào ông nghi là phản thì giết liền và cuối cùng ông làm vua, nhưng nhìn chung quanh thấy ai cũng muốn giết ông, thấy ai cũng là kẻ thù, thậm chí trong giấc mơ cũng thấy người ta giết ông. Như vậy, ông không có chút xíu hạnh phúc nào, dù đang còn sống, nhưng đã đọa địa ngục A tỳ. Vì ở địa ngục này là chỗ tâm bất an nhất, khổ đau nhất; đó là địa ngục của tâm, tâm ông lúc nào cũng không yên. Còn Tỳ-kheo không có một vật sở hữu, nhưng hạnh phúc vì không quan tâm đến ăn uống, ngủ nghỉ, chỗ ở, có cũng được, không cũng không sao. Trên bước đường tu, Tỳ-kheo cứ giảm thiểu việc ăn uống ngủ nghỉ, ăn ngủ càng ít càng tốt, chỗ ở đơn giản, như vậy thuận lợi cho việc tu hành; không phải vật chất lên cao là hạnh phúc. Trái lại, vật chất càng cao, hưởng thụ nhiều rồi quen, đến khi rớt vô hoàn cảnh xấu, thức ăn, áo mặc, chỗ ở không tốt là thấy khổ liền. Khổ sanh ra là do ý thức hưởng lạc tạo thành, hay do nghiệp sai biệt tạo nên khổ đau.

Thật vậy, vì ý thức hưởng thụ cao, nhưng không đủ chi phí trả thì thấy khổ. Có Phật tử ở Mỹ về Việt Nam đến thăm tôi và nói rằng con ở Mỹ kiếm được nhiều tiền, nhưng sao không thấy hạnh phúc bằng các Phật tử tới chùa Phổ Quang tu Một ngày an lạc. Tôi hỏi tại sao. Đạo hữu này trả lời vì bên đó con phải làm 8 tiếng, rồi phải làm tăng giờ đến 12 tiếng, 16 tiếng một ngày để kiếm được một số tiền, nhưng không biết sao tiền này cũng hết, cuối tháng xem giấy nợ tiền nhà, tiền điện nước, điện thoại, bảo hiểm, v.v… làm cho con lúc nào cũng thấy bất an. Con về Việt Nam hỏi các bạn làm gì, nhiều người trả lời không làm gì. Thật là lạ, không làm gì thì sao có tiền để sống, để tu. Ở các nước văn minh, làm nhiều, nhưng tiền cũng không dư, mình không làm gì hay làm ít, nhưng có đủ điều kiện sống và tu. Tôi nói như vậy các Phật tử ở quê nhà có phước hơn ở nước ngoài.

Hạnh phúc chính yếu của chúng ta là tâm an lạc. Tâm an lạc này phát xuất từ tâm không mong cầu, không ham muốn. Cho nên đạo Phật chủ trương diệt dục là diệt lòng ham muốn. Có người nói nếu không ham muốn thì không hạnh phúc, vì có ham muốn và được thỏa mãn mới gọi là hạnh phúc. Nhưng ham muốn được thỏa mãn mà gọi là hạnh phúc thì hạnh phúc này luôn đi theo bất hạnh, vì lòng ham muốn luôn tăng trưởng, ham muốn sau luôn cao hơn ham muốn trước, mà phước báo thì lại giảm lần. Vì vậy, người đang hưởng phước báo ở cõi Trời, ban đầu được thỏa mãn 100%, kế tiếp ham muốn được thỏa mãn tuột xuống còn 90, 80%, cho đến không được thỏa mãn gì nữa thì rơi xuống địa ngục. Vì ham muốn càng cao phải đáp ứng nhu cầu càng lớn, trong khi năng lực ta lại càng kém đi, nên hai điều này luôn tỷ lệ nghịch với nhau. Con người tạo nghiệp sai biệt để thỏa mãn lòng ham muốn, nhưng không thỏa mãn được thì rơi vào bất hạnh; đó là hạnh phúc thế gian luôn đi liền với bất hạnh, cho nên cuộc sống luôn thay đổi trong sáu đường sinh tử của chúng sinh.

Theo Phật, chúng ta tìm hạnh phúc chân thật gọi là Niết-bàn, còn hạnh phúc của thế gian để rồi khổ đau đi liền theo sau:

Vui trong tham dục, vui rồi khổ

Khổ để tu hành, khổ hóa vui.

Diệt một phần phiền não, một phần hạnh phúc sanh ra. Tăng trưởng một phần phiền não, một phần bất hạnh chờ đón chúng ta. Chủ yếu Phật dạy phiền não phải diệt là tham, giận, si mê và những phiền não phụ là ích kỷ, kiêu căng, khinh người, v.v... Các Tỳ-kheo chủ yếu phá bỏ lòng ham muốn để hạnh phúc sanh ra và hạnh phúc cứ theo đó phát triển lên. Thật vậy, khi chúng ta không có lòng ham muốn thì thấy gần như may mắn tới với mình. Tôi thể nghiệm điều này thấy rõ lúc mới tu, không làm gì thì cơm ăn, áo mặc, chỗ ở thiếu thốn tối đa. Vô chùa ở, cần có quần áo mặc cho kín, tôi lượm đồ xả tang nhuộm vỏ măng cụt để mặc, nhưng tôi vẫn thấy hạnh phúc. Các huynh đệ cùng tu khá hơn, có hoàn cảnh tốt hơn là gia đình giàu có, hoặc họ làm một số việc có thu nhập cao, thì thức ăn chùa không ăn được, họ mua thức ăn khác, quần áo họ tự sắm hay cha mẹ cho. Nhưng những huynh đệ này rơi vào hoàn cảnh bất hạnh lần, vì cha mẹ già yếu, hoặc làm ăn thất bại, không cho nữa, họ khổ liền. Tu mà trông cậy vào cha mẹ là khổ. Thứ hai là trông cậy vào những người quen, vào bổn đạo. Có người có bác làm giám đốc, có anh làm chủ tịch, thường mong đợi họ giúp đỡ. Dù họ có giúp chăng nữa nhưng cũng ở mức độ nào thôi, nên mức cầu luôn cao hơn mức cung thì bị bất hạnh lần. Người xuất gia hay người đời không hiểu ý Phật dạy, luôn tạo nghiệp sai biệt để rơi vào khổ đau.

Riêng tôi, nhờ hiểu lời Phật dạy và áp dụng trong cuộc sống, tìm thấy hạnh phúc trong lúc không có cơm ăn, áo mặc, vì tôi không ganh tức với những người xung quanh, nên lòng sân hận không sanh ra. Tôi nghĩ họ có đời sống cao hơn mình, vì có cha mẹ cho, hay có bà con làm ăn khá; còn phước mình mỏng thì phải cố gắng tu tập, phấn đấu đi lên để tạo phước. Vì vậy, tôi luôn cắt giảm lòng ham muốn, nhưng tăng trưởng công đức lành. Phật dạy một câu đơn giản nhưng rất có ý nghĩa là bỏ điều ác, siêng năng làm điều lành, hạnh phúc sẽ tới.

Trong đời thường, tất cả chúng ta đều có thể tạo cho mình hạnh phúc. Hạnh phúc này do lòng tốt của chúng ta sanh ra và do diệt trừ những tánh xấu. Khi quý vị khởi tâm từ thương chúng sinh, ẩn tu trong hang núi, sống với các loài dã thú, ta cho nó thức ăn thừa, thấy nó vui, ta cũng vui. Phật dạy các Tỳ-kheo tu trong pháp Phật phải thương chúng sinh và phải hành bố thí, nghĩa là chúng ta có nhiều thức ăn nên chia sẻ cho những người không có, thì ta có thêm một người bạn tốt. Và quý vị thấy trên thực tế bên cạnh chúng ta có bạn tốt, chúng ta hạnh phúc chứ. Còn nếu chúng ta giàu có, nhưng người xung quanh muốn cướp của, muốn giết ta, làm sao hạnh phúc được. Chúng ta tuy nghèo, nhưng có bạn tốt, vẫn hạnh phúc.

Bồ-tát luôn có hạnh phúc, vì các Ngài thương người và bố thí. Tôi đọc câu chuyện Quan Âm ngàn mắt ngàn tay nói rằng thuở quá khứ xa xưa, Ngài là một ác quỷ, tức luôn tìm hạnh phúc cho mình trên cái bất hạnh, khổ đau của người khác. Làm những hành động ác để thỏa mãn yêu cầu của mình, nên sẵn sàng giết người, cướp của, thỏa mãn thú tính thì làm sao có hạnh phúc được. Người ác như vậy, nên ai cũng sợ, cũng tránh khiến người này rơi vô sự cô đơn cùng cực, may được gặp Đức Phật thuyết pháp cho nghe. Người này tự thay đổi cuộc sống và tìm thấy hạnh phúc trong từng hành động, cho đến được hạnh phúc hoàn toàn, trở thành Bồ-tát Quan Âm. Từ tìm hạnh phúc bằng cách gây bất hạnh cho người, theo Phật, đổi thành mang hạnh phúc cho người. Cứu được một người thì vị này có thêm một người bạn tốt, nghĩa là có thêm hai tay, hai mắt, khác với trước kia hại người nên bị cô lập. Cho đến giúp được 100 người thì có thêm được 200 tay, 200 mắt và cứu giúp được 1000 người, nên có ngàn người làm tay mắt cho Đức Quan Âm, biến người từ ác quỷ trở thành đa năng, tức có nhiều người bạn hợp tác, nên làm được việc lớn. Tượng Quan Âm ngàn mắt ngàn tay trên đầu luôn có Phật ngự trị, nghĩa là Bồ-tát Quan Âm làm tất cả mọi việc đều có trí tuệ chỉ đạo. Làm theoPhật dạy thì Bồ-tát Quan Âm có hạnh phúc là Ngài được tất cả mọi người thương quý, kính trọng. Cho nên trong kinh Phổ môn nói rằng ai cũng muốn thấy Ngài, thương Ngài, nên Ngài có tên là Quan Âm.

Chỉ thay đổi tư duy của chúng ta để thấy hạnh phúc trong đời thường. Tuy chúng ta nghèo, nhưng có thể giúp người nghèo hơn, sẵn sàng làm bất cứ việc gì mà người an lạc. Đức Phật đã làm như vậy và Ngài dạy chúng ta như vậy. Phật được hạnh phúc hoàn toàn, được Niết bàn giữa trần gian là hạnh phúc giữa đời thường. Trên bước đường giáo hóa độ sanh, Đức Phật đã bế một con nai què cho nó theo kịp nai mẹ, Ngài cũng hạnh phúc vì đã giúp được con vật nhỏ bé. Phật sống rất bình thường, nhưng chúng ta thấy Ngài rất cao thượng. Nhìn lại quá khứ hành đạo của Phật, Ngài đến đâu cũng mang an vui, không gây khổ đau cho ai, nên Ngài có hạnh phúc nhất giữa đời thường và khi tịch diệt Ngài cũng ở trạng thái an lạc nhất. Bước theo dấu chân Phật, làm theo Phật, chắc chắn hạnh phúc sẽ đến với chúng ta trong cuộc sống đời thường và thậm chí trong giấc mơ, chúng ta cũng được hạnh phúc. Còn nếu tạo nghiệp ác thì kiếm tiền rất cực khổ, nhưng chi hết số tiền có được cũng rất nhanh và khi sức lực tinh thần hao mòn, tham vọng lại càng lên cao, nên không thỏa mãn được, liền đau khổ vô cùng là đọa địa ngục.

Trở lại đời thường, Phật tử không khởi lòng tham, nhưng biết cách sống nghĩa là hưởng thụ đồng tiền kiếm được một cách chân chánh, phải biết sắp xếp cuộc sống bằng cách kiếm được nhiều tiền thì chi nhiều, kiếm ít thì chi ít, hay tốt hơn nữa là kiếm nhiều nhưng chi ít sẽ dễ tới gần hạnh phúc hơn. Còn kiếm ít mà chi nhiều, bất hạnh đến với chúng ta mau hơn. Phật dạy nếu là người nghèo khổ nhất, nên chi trong phước báo của mình thôi, đừng vượt mức cho phép. Nhưng khá hơn, chúng ta bớt nhu cầu lại để tương lai còn thặng dư giúp người khác thì ta sẽ tạo được phước.

Tỳ-kheo khất thực có thức ăn chia sẻ cho người ăn mày khác là làm phước và cũng không lãng phí thức ăn, tức không bỏ thức ăn thừa. Một số người giàu có phần nhiều hay lãng phí của thì hết phước bị đọa mau. Trên bước đường tu, tôi thường cân nhắc mình làm bao nhiêu và hưởng bao nhiêu, làm ít mà hưởng nhiều thì mau hết phước. Phật dạy nên ăn vừa đủ, hay ăn thiếu một chút, thay vì ăn 2 bát cơm, ta ăn một bát rưỡi, để nửa bát dư giúp người khác. Vì Phật dạy làm ra bát cơm không dễ, mà nửa ăn nửa bỏ thì tội lớn. Có câu chuyện Phật sai thị giả giặt y, nhưng y cứ nổi lên, không chìm xuống nước được thì làm sao giặt. Thị giả mới lấy hòn đá đè lên chiếc y mà nó cũng không chìm xuống. Phật mới bảo lấy một hột cơm dán lên cái y thì nó chìm liền. Câu chuyện đơn giản, nhưng có ý nghĩa dạy chúng ta không nên lãng phí thức ăn. Phật nhắc nhở về công khó của người làm ra hạt cơm, cho nên lãng phí thức ăn sẽ có tội. Vì vậy, khi lấy thức ăn cũng lấy vừa đủ, không lấy dư để bỏ và ăn xong, các thầy còn phải tráng bát rồi uống nước này. Hoặc rửa bát đổ cơm dư cho chim chóc, côn trùng ăn, ta vẫn bố thí được cho các loài trong sáu đường sinh tử. Như vậy, người nghèo nhất cũng có thể bố thí; còn nghèo mà không biết bố thí thì càng nghèo thêm. Thực tế chúng ta thấy có những người chưa đáng phải đi xin ăn, nhưng họ giả bộ bệnh hoạn để lừa dối người, sau này tôi thấy họ trở thành người tàn tật thiệt.

Tâm Phật luôn trải rộng, thương tất cả mọi người, mọi loài. Tập từ bi theo Phật, chúng ta cho cá ăn bánh mì, thấy nó quẫy đuôi vui mừng khiến ta cũng vui theo; như vậy lấy niềm vui của chúng sinh làm niềm vui của mình, mang an vui cho người, cho tất cả mọi loài, đó là hạnh phúc chân thật.

Tỳ-kheo không có tài sản, nhưng có lòng từ bi, đã diệt được tham lam, sân hận thì đi tới đâu trải lòng cưu mang giúp đỡ người, giúp đỡ các loài, thấy tất cả được an lạc thì họ cũng an lạc, gọi là hạnh phúc giữa đời thường.

Nếu biết sống theo lời Phật dạy, sẽ tìm thấy hạnh phúc trong mọi hoàn cảnh và từ đây nâng lên, đoạn một phần nghiệp ác thì một phần công đức sanh ra. Hai điều này tỷ lệ thuận với nhau. Người tu đúng như vậy, ban đầu nghèo, sau trở thành khá giả, ban đầu bệnh hoạn, sau trở thành khỏe mạnh; nghĩa là nghiệp giảm, phước sanh.

Đầu tiên chúng ta có tâm an lạc, dù chưa có bạn tốt, chưa có tiền, chưa có sức khỏe, nhưng tâm được an lạc trong giáo pháp của Phật là hạnh phúc nhất. Nhưng khá hơn, không có tham vọng, tâm được an lạc, nên ngủ được yên giấc thì thân thể cân bằng, bệnh tật không sanh ra. Thật vậy, bệnh sanh phần lớn do não bộ làm việc quá sức, nhưng bây giờ tâm an lạc, cơ thể tự điều chỉnh, nên bệnh không sanh. Tâm an lạc tạo cho cơ thể khỏe mạnh. Tâm không tham cầu, không có ý thức ăn nhiều, ăn ngon, nên chất độc không đem vào cơ thể. Những gì cần cho sức khỏe, chúng ta ăn; không cần thì không ăn, nên bệnh cũng hết. Người ăn nhiều chất béo, chất ngọt, bị béo phì, bị nhiều bệnh. Nhưng tâm an lạc, ăn uống đơn giản, mà bệnh không sanh. Thân không bệnh, tâm an lạc, và ngược lại tâm an lạc, thân không bệnh, hai điều này bổ sung nhau. Chúng ta không có nhu cầu nhiều, nên không phải nỗ lực làm đến 16 tiếng, chỉ làm 8 tiếng và tự điều chỉnh cơ thể được. Không làm nhiều, không phải ăn nhiều, nên có thì giờ cho thân xác nghỉ ngơi và tinh thần cũng được nghỉ ngơi, cơ thể theo đó trở thành cân bằng và tâm lý cũng ổn định, là tìm được hạnh phúc, vì tâm an, thân khỏe.

Ngoài ra, không lừa dối, không nhờ cậy, nhưng giúp đỡ người, nên người thương ta hơn là hạnh phúc giữa đời thường. Tôi đến đâu được người thương, thì tôi sung sướng quá. Tôi ra Tuy Hòa, nơi Bồ-tát Quảng Đức xuất gia, ở đó có hàng ngàn Phật tử tập họp nghe tôi thuyết pháp. Đó là hạnh phúc lớn. Cho ăn nhiều không thấy hạnh phúc, nhưng thấy người thương quý, ta có nhiều bạn bè tốt giúp ta tu được, đó là hạnh phúc thứ ba sanh ra trong đời thường.

Thứ tư là có tiền của nhiều cũng được coi là có hạnh phúc, nhưng điều này nguy hiểm, vì dễ sanh ra nghiệp ác. Vì vậy, nên sử dụng đồng tiền chân chánh để làm việc nghĩa; đó là hạnh phúc được chúng ta nhân rộng lần, vì chúng ta đã cưu mang, giúp đỡ người thì sẽ có hạnh phúc.

Hạnh phúc thứ năm là trí tuệ, tức hiểu biết của chúng ta mỗi ngày một rộng thêm, nhìn thấy sự việc gì cũng thông suốt. Và cuối cùng, chúng ta hiểu biết như Phật, biết sáu đường sinh tử thực không có sinh tử, nhưng vì vô minh vọng kiến ngăn che, sanh ra các tánh ham muốn khác nhau, nên tạo tội sai biệt, mới khổ đau sinh tử. Biết rõ như vậy, chúng ta xả thân hành đạo trong sinh tử để cứu độ chúng sinh, đưa tất cả mọi người về Niết-bàn. Thành tựu viên mãn hạnh nguyện giáo hóa độ sanh, chúng ta có Niết-bàn là hạnh phúc chân thật vĩnh cửu.

Source: ChuaHueNghiem.net

Quan sát và lắng nghe



Một người thì thầm: "Cuộc sống ơi, sao không nói gì với tôi?".

Và một chú sáo cất tiếng hót. Đó chẳng phải là tiếng nói của cuộc sống sao? Nhưng anh ta không nghe thấy.

Một người thì thầm: "Cuộc sống ơi, hãy nói gì với tôi đi chứ!". Và một tiếng sấm nổ vang trời. Đó chẳng phải là tiếng nói của cuộc sống sao? Nhưng anh ta không nghe thấy.

Một người nhìn quanh và nói: "Cuộc sống ơi, sao tôi không bao giờ nhìn thấy cuộc sống?". Và một vì sao sáng hơn. Đó chẳng phải là ánh sáng của cuộc sống hay sao? Nhưng anh ta không để ý thấy.

Một người kêu lên: "Cuộc sống ơi, tôi muốn có một điều kì diệu!". Và một đứa trẻ được sinh ra đời. Đó chẳng phải là một điều kì diệu sao? Nhưng anh ta không hay biết.

Một người kêu lên trong thất vọng: "Cuộc sống, hãy chạm vào tôi. Hãy cho tôi biết là người vẫn ở đâu đây và có thể bảo vệ tôi". Một giọt nước trên lá cây rơi xuống vai anh ta. Đó chẳng phải là cuộc sống đã nhẹ nhàng chạm vào anh ta đó sao? Nhưng anh ta lau giọt nước và bỏ đi.

Hạnh phúc không được đóng gói gửi cho mọi người. Nó đến từ cuộc sống, từ thiên nhiên, từ những gì tưởng như vô tình. Hạnh phúc đến, nhưng nó thường không đến theo cách mà bạn muốn. 

Thế nào là sống đẹp?

Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn? Tình cho đi không lấy lại bao giờ Giúp người nặng, nhẹ không toan tính Hỷ xả lòng người nhẹ như bông. 



Có bao giờ bạn tự hỏi: Sống đẹp là gì? Và bạn đã thực sự sống đẹp chưa?

Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi người chọn cho mình những cách thể hiện khác nhau và hình thành những cách sống khác nhau. Sống đẹp là một lối sống tích cực mà mỗi người cần phải hướng tới. Nhưng sống thế nào mới gọi là lối "sống đẹp” và đó là điều băn khoăn của rất nhiều người.


Sống đẹp là sống có mục đích, có ước mơ, lí tưởng. Sống đẹp là sống có ý chí cầu tiến, biết đứng dậy bằng chính đôi chân của mình khi vấp ngã, biết bền lòng và dũng cảm vượt qua những thử thách, khó khăn để vươn lên, chắp cánh cho ước mơ của mình được bay cao, bay xa. Sống đẹp còn là một lối sống có văn hóa, có tri thức, có tình người.

Đẹp không chỉ là cái đẹp hình thức. Cái đẹp thể hiện từ những hành động cư xử nhỏ nhất trong cuộc sống đến nghị lực vươn lên trong mỗi con người. Sống đẹp trước hết phải xuất phát từ tấm lòng nhân ái, từ chính tình yêu trong trái tim để từ đó mà sống hết mình vì người khác, để bao dung, tha thứ và biết cảm thông... Và khi xuất phát từ tình yêu thương thì bất cứ hành động nào dù là nhỏ nhất cũng đầy sự quan tâm, chia sẻ giữa người với người. Một sáng đến trường, bạn không sợ muộn học mà dừng lại giúp một cụ già qua đường hay biết nói lời xin lỗi dù đụng phải một người ăn xin đói rách... Những hành động ấy dù nhỏ nhặt nhưng đều là những nghĩa cử cao đẹp.

Chúng ta không thể trở thành người sống đẹp chỉ trong một ngày, một giờ. Quan trọng mọi thứ xuất phát từ tấm lòng của ta. Sống đẹp không khó, chỉ khó khi ta lười biếng, e ngại hoặc chưa đủ quyết tâm, dễ dàng bỏ cuộc, buông xuôi, mặc cho dòng đời xô đẩy. Con người sẽ sống đẹp nếu con người có mục tiêu, lý tưởng vươn lên, biết hài hòa giữa các giá trị: giá trị vật chất, giá trị nhân văn, giá trị tinh thần, giá trị thẩm mỹ… và phải thực sự hài hòa trong quan hệ tương tác xã hội. Sống đẹp mãi là động lực để mỗi người phấn đấu nếu như mỗi người biết cống hiến, biết hy sinh và có bản lĩnh.

Hãy mở rộng lòng mình, đem yêu thương sưởi ấm cho những trái tim ướt lạnh trước sóng gió của cuộc đời. Hãy biết cho đi để được nhận lại tình yêu thương, niềm tin và hy vọng. Hãy tự chiêm nghiệm cho mình lối sống đẹp để khi ở cuối con đường, chúng ta đều mỉm cười mãn nguyện.

"Khi anh sinh ra

Mọi người đều cười

Riêng anh thì khóc oe oe

Hãy sống sao để khi chết đi

Mọi người đều khóc

Còn môi anh thì nở nụ cười”

Nguồn tin: Theo vntim.blogspot.com 

Bài học từ những người nghèo khổ



Các bạn ạ, trong cuộc sống có rất nhiều điều tưởng chừng như quá đỗi bình thường,nhưng thật ra ẩn chứa bên trong là một bài học ý nghĩa. 

- Một ngày kia, một người bố cùng gia đình giàu có của ông ta dẫn đứa con trai mình đi du lịch đến một đất nước với mục đích là cho con trai mình thấy, ở nơi đó người ta sống nghèo khổ ra sao.

Họ ở một ngày một đêm trong nông trại của một gia đình rất nghèo khổ. Khi kết thúc chuyến đi, người bố hỏi con mình: "Con thấy chuyến đi như thế nào?"

"Rất tốt, thưa bố!"

Ngạc nhiên trước câu trả lời của đứa con, người bố hỏi lại: "Con có nhìn thấy những người sống ở đó nghèo khổ đến thế nào không?"

"Vâng, có!"

"Vậy con đã học được những gì?"

Cậu con trai trả lời: "Con nhìn thấy chúng ta nuôi một con chó, họ có bốn con. Chúng ta có một cái hồ rộng đến giữa khu vườn, họ có một dòng suối nhỏ không có nơi kết thúc. Chúng ta có những bóng đèn thắp sáng khu vườn, họ có những vì sao. Sân trong nhà chúng ta kéo dài ra tận đến sân trước, họ có cả một chân trời.

Khi cậu con trai dứt lời, người cha nín lặng - không nói được gì.

Cậu bé nói tiếp: "Cảm ơn bố đã cho con thấy họ nghèo khổ đến thế nào!"

Có phải sự thật là tất cả mọi thứ phụ thuộc vào cách bạn nhìn thấy chúng? Nếu bạn có tình yêu, bạn bè, gia đình, sức khoẻ, sự hài hước và một thái độ lạc quan hướng về cuộc sống, bạn đã có tất cả mọi thứ!

Nguồn tin (St)